jointowork
03-23-2009, 08:14 PM
Trải qua quá trình lịch sử, xứ Thanh – mảnh đất có truyền thống cách mạng - lịch sử và văn hóa, giàu tiềm năng đã đón nhận nhiều tộc người khác nhau với những nét văn hóa đặc sắc, phong phú, đa dạng tới lập nghiệp.
Thanh Hóa ngày nay, bên cạnh dân tộc Kinh – chiếm số đông trong tổng số dân cư trên địa bàn, còn có các dân tộc Thái, Mường, Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ cùng sinh sống.
Dù cư trú ở vùng thấp hay vùng cao, dù cư trú lâu đời hay mới chuyển đến, các dân tộc ở tỉnh Thanh luôn đoàn kết, gắn bó, chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.
1- Dân tộc Thái
Theo các nhà khoa học, lịch sử người Thái ở Thanh Hóa có quan hệ gần gũi và chặt chẽ với người Thái ở Tây Bắc và có nguồn gốc từ dòng họ Lò Khăm (tiếng Thái Đen). Các dòng họ chủ yếu của người Thái là: Hà, Phạm, Lang, Lò, Vi, Đinh... Người Thái ở Thanh Hóa có 2 nhánh là: Thái Trắng (Táy Dọ) và Thái Đen (Táy Đăm). Người Thái Trắng sống tập trung ở hai huyện Thường Xuân, Như Xuân và một số bản giáp huyện Triệu Sơn. Người Thái Đen chiếm đa số, sống tập trung ở các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh... Dân số khoảng hơn 200 ngàn người (tính đến 1-4-1999).
Người Thái thường lập mường, lập bản theo sông, suối. Tục ngữ Thái có câu: “Táy kin nậm”, nghĩa là Thái ăn theo nước. Hoặc: “O lóc có noong, xoong hươn có bản” nghĩa là: một vùng nước nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản. Tên bản thường đặt theo tên sông, tên suối, tên núi, tên đồi... nơi cư trú. Từ xa xưa, người Thái đã biết dựa vào lợi thế tự nhiên của các thung lũng, bãi bồi ven sông để khai khẩn thành ruộng nước, nhiều thửa ruộng tập trung thành cánh đồng phì nhiêu.
Đặc điểm của người Thái Trắng và Thái Đen về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở trang phục phụ nữ. Phụ nữ Thái Trắng có cạp váy ngắn, phần váy thêu hình con rồng. Còn về tiếng nói chỉ khác chút ít về phát âm, cùng chung ngữ hệ Tày – Thái. Người Thái có chữ viết riêng, ở nhà sàn; trước đây còn có nhiều thế hệ cùng ở chung trong một nhà, nay thì phân chia thành các gia đình theo cặp vợ chồng. Người Thái ở theo nước, bản làng trù phú đông vui.
2 - Dân tộc Mường
Dân cư Mường ở Thanh Hóa ngày nay sinh sống chủ yếu ở vùng đồi và núi thấp, có khả năng phát triển kinh tế đồi rừng. Ở các huyện miền núi và các miền của Thanh Hóa đều có người Mường sinh sống, nhưng tập trung chủ yếu ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bá Thước, Lang Chánh, Như Xuân...
Dân tộc Mường có dân số nhiều nhất (ước khoảng hơn 300 ngàn người – số liệu năm 1999) so với các dân tộc thiểu số khác ở trong tỉnh. Dân tộc Mường ở Thanh Hóa có hai nhánh: nhánh Mường Trong (theo quan niệm của đồng bào là mường gốc) xuất xứ từ Mường Ống, huyện Bá Thước ngày nay. Nhánh Mường Ngoài từ tỉnh Hòa Bình chuyển vào Thạch Thành. Theo các tài liệu lịch sử, người Mường cùng chung nguồn gốc với người Việt cổ.
Người Mường cũng như người Thái ở nhà sàn, quần tụ lại thành chòm bản ở chân đồi hoặc gần sông suối. Nghề chính của đồng bào là làm ruộng, rẫy. Người Mường có nền văn hóa lâu đời, dân ca, dân vũ phong phú, đa dạng nhưng chưa có chữ viết riêng, ngôn ngữ theo nhóm ngôn ngữ Việt – Mường. Các dòng họ chủ yếu của người Mường là: Phạm, Nguyễn Đình, Trương Công, Quách, Cao, Lê Xuân, Bùi...
3. Dân tộc Mông
Trước năm 1992, dân tộc Mông ở Thanh Hóa chỉ có một số ít, cư trú chủ yếu ở xã Pù Nhi, huyện Mường Lát. Từ năm 1992 trở lại đây, đồng bào Mông từ các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái... di cư vào, dân số đã tăng lên 13.863 người (số liệu năm 1999). Dân tộc Mông có nhiều dòng họ, trong đó có 3 họ lớn là họ Hơ, họ Thao và họ Lầu. Hiện nay đồng bào Mông sống chủ yếu ở gần 20 chòm bản thuộc các xã Pù Nhi, Mường Lý, Trung Lý, Tam Chung, Quang Chiểu, huyện Mường Lát và một số chòm ở các huyện Quan Sơn, Quan Hóa.
Địa bàn cư trú của người Mông đều tập trung ở vùng núi cao, rừng nguyên sinh và đầu nguồn sông, suối. Cuộc sống dựa vào phát nương làm rẫy. Dân tộc Mông có tiếng nói, chữ viết riêng, có những phong tục tập quán đặc biệt để ràng buộc các thành viên trong cộng đồng. Tâm lý cố hữu của đồng bào Mông là những gì đã tin thì khó thay đổi.
Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, chính sách định canh định cư của Đảng và sự đầu tư nhiều chương trình, dự án của Nhà nước đã và đang từng bước làm thay đổi đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào Mông. Đến nay bà con dân tộc Mông đã biết giữ rừng, biết trồng cây lúa nước.
4. Dân tộc Dao
Dân tộc Dao ở Thanh Hóa tương truyền là từ Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Quảng Ninh chuyển vào khoảng 4 đến 5 đời. Dân tộc Dao ở Thanh Hóa hiện gồm 2 nhóm là Dao Tiền (tập trung chủ yếu ở huyện Mường Lát) và Dao Quần Chẹt (tập trung chủ yếu ở một số xã của huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy. Tổng số dân tộc Dao là 5.031 người (số liệu năm 1999).
Đồng bào Dao dùng chữ Nho để ghi chép, khi đọc phát âm theo tiếng Dao. Trình độ hiểu biết, khả năng giao tiếp khá năng động, nhạy bén so với các dân tộc thiểu số khác. Dòng họ lớn nhất của dân tộc Dao là họ Triệu, ngoài ra còn có các họ Phan, Phùng, Bàn... Nhà ở của người Dao làm theo kiểu nửa sàn, nửa đất nhưng đến nay đồng bào Dao ở vùng thấp đã dựng nhà gần giống như nhà của người Kinh.
Trước đây, đồng bào Dao sống du canh, du cư. Nguồn sống của bà con dân tộc Dao dựa vào nương rẫy. Từ cuộc vận động định canh định cư, phần lớn đồng bào Dao đã xuống núi tập trung sản xuất, vừa đa canh, vừa thâm canh. Mọi chòm bản đều có trường lớp cho con em đi học. Tuy sống xen ghép với các dân tộc đông người, nhưng người Dao vẫn giữ được nét riêng biệt, độc đáo của dân tộc mình về văn hóa, lễ hội và sắc phục.
5. Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Khơ Mú sống tập trung ở 2 bản: Đoàn Kết, xã Tén Tằn và Suối Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát. Dân số năm 1999 là 642 người. Dân tộc Khơ Mú không có chữ viết. Tiếng nói theo ngôn ngữ Khơ Me. Nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Khơ Mú là sống hòa thuận trong chòm, trong bản. Mối quan hệ dòng họ rất nghiêm ngặt. Tộc trưởng có quyền quyết đoán mọi chuyện. Người Khơ Mú hầu như chỉ quan hệ với bên ngoài về kinh tế, còn quan hệ tình cảm, văn hóa khép kín trong dòng tộc. Từ khi có chính sách định canh định cư của Đảng và Chính phủ, cuộc sống của đồng bào dân tộc Khơ Mú đã có nhiều thay đổi. Con trai, con gái đã được đi học, giao tiếp rộng rãi và đã lấy chồng, lấy vợ người dân tộc khác.
6. Dân tộc Thổ
Dân tộc Thổ ở Thanh Hóa có nhiều nét gần với dân tộc Mường và dân tộc Kinh. Người Thổ chỉ có một họ duy nhất là họ Lê. Dân tộc Thổ cư trú chủ yếu ở huyện Như Xuân. Dân số năm 1999: 9.464 người. Nét riêng biệt của người Thổ là bộ sắc phục của phụ nữ khá độc đáo, duyên dáng. Phương thức canh tác chủ yếu là cấy lúa nước.
7. Dân tộc Kinh
Dân số năm 1999 là 2.905.924 người. Người Kinh sinh sống ở hầu khắp các vùng trong tỉnh. Dân tộc Kinh có vị trí quan trọng trong đời sống nói chung và việc phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội ở tỉnh Thanh Hóa.
Về lịch sử, Thanh Hóa là miền đất có người tối cổ sinh sống. Thanh Hóa không những có một thời kỳ tiền sử lâu dài mà ở đây sự phát triển văn hóa của người nguyên thủy còn biểu hiện tính liên tục, rõ ràng hơn các vùng khác của đất nước. Sự liên tục còn biểu hiện rõ trong thời đại kim khí, từ các giai đoạn tiền Đông Sơn đến văn hóa Đông Sơn. Những thành tựu khảo cổ học cho thấy vào thời đại đồng thau, lưu vực sông Mã, sông Chu đã trở thành trung tâm cư trú của người Việt cổ trên đất Thanh Hóa. Họ đã biến những đầm lầy hoang, cồn bãi hoang dại ven các con sông thành những vùng đất màu mỡ và xây dựng những xóm làng đầu tiên của người Việt cổ xứ Thanh.
Người dân Thanh Hóa biết làm ruộng từ thời kỳ sơ sử. Sau này, từ thế kỷ X, dưới thời Lê, người Thanh Hóa đã mở mang mọi mặt kinh tế, nông – công – thương nghiệp.
Trong các thời đại lịch sử, người Kinh ở Thanh Hóa đã có những đóng góp quan trọng về nhân tài quản lý và nguồn nhân lực lớn cho các cuộc chiến giành và giữ gìn độc lập của nước Việt.
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/anh-2.jpg
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/dtocmuong1.jpg
Thiếu nữ dân tộc Dao.
Thiếu nữ dân tộc Mường trong ngày hội cồng chiêng.
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/anh-4.jpg
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/thieunu.jpg
Trang phục dân tộc Mông
Trang phục của phụ nữ dân tộc Khơ Mú.
Theo BaoThanhHoa
Thanh Hóa ngày nay, bên cạnh dân tộc Kinh – chiếm số đông trong tổng số dân cư trên địa bàn, còn có các dân tộc Thái, Mường, Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ cùng sinh sống.
Dù cư trú ở vùng thấp hay vùng cao, dù cư trú lâu đời hay mới chuyển đến, các dân tộc ở tỉnh Thanh luôn đoàn kết, gắn bó, chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.
1- Dân tộc Thái
Theo các nhà khoa học, lịch sử người Thái ở Thanh Hóa có quan hệ gần gũi và chặt chẽ với người Thái ở Tây Bắc và có nguồn gốc từ dòng họ Lò Khăm (tiếng Thái Đen). Các dòng họ chủ yếu của người Thái là: Hà, Phạm, Lang, Lò, Vi, Đinh... Người Thái ở Thanh Hóa có 2 nhánh là: Thái Trắng (Táy Dọ) và Thái Đen (Táy Đăm). Người Thái Trắng sống tập trung ở hai huyện Thường Xuân, Như Xuân và một số bản giáp huyện Triệu Sơn. Người Thái Đen chiếm đa số, sống tập trung ở các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh... Dân số khoảng hơn 200 ngàn người (tính đến 1-4-1999).
Người Thái thường lập mường, lập bản theo sông, suối. Tục ngữ Thái có câu: “Táy kin nậm”, nghĩa là Thái ăn theo nước. Hoặc: “O lóc có noong, xoong hươn có bản” nghĩa là: một vùng nước nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản. Tên bản thường đặt theo tên sông, tên suối, tên núi, tên đồi... nơi cư trú. Từ xa xưa, người Thái đã biết dựa vào lợi thế tự nhiên của các thung lũng, bãi bồi ven sông để khai khẩn thành ruộng nước, nhiều thửa ruộng tập trung thành cánh đồng phì nhiêu.
Đặc điểm của người Thái Trắng và Thái Đen về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở trang phục phụ nữ. Phụ nữ Thái Trắng có cạp váy ngắn, phần váy thêu hình con rồng. Còn về tiếng nói chỉ khác chút ít về phát âm, cùng chung ngữ hệ Tày – Thái. Người Thái có chữ viết riêng, ở nhà sàn; trước đây còn có nhiều thế hệ cùng ở chung trong một nhà, nay thì phân chia thành các gia đình theo cặp vợ chồng. Người Thái ở theo nước, bản làng trù phú đông vui.
2 - Dân tộc Mường
Dân cư Mường ở Thanh Hóa ngày nay sinh sống chủ yếu ở vùng đồi và núi thấp, có khả năng phát triển kinh tế đồi rừng. Ở các huyện miền núi và các miền của Thanh Hóa đều có người Mường sinh sống, nhưng tập trung chủ yếu ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bá Thước, Lang Chánh, Như Xuân...
Dân tộc Mường có dân số nhiều nhất (ước khoảng hơn 300 ngàn người – số liệu năm 1999) so với các dân tộc thiểu số khác ở trong tỉnh. Dân tộc Mường ở Thanh Hóa có hai nhánh: nhánh Mường Trong (theo quan niệm của đồng bào là mường gốc) xuất xứ từ Mường Ống, huyện Bá Thước ngày nay. Nhánh Mường Ngoài từ tỉnh Hòa Bình chuyển vào Thạch Thành. Theo các tài liệu lịch sử, người Mường cùng chung nguồn gốc với người Việt cổ.
Người Mường cũng như người Thái ở nhà sàn, quần tụ lại thành chòm bản ở chân đồi hoặc gần sông suối. Nghề chính của đồng bào là làm ruộng, rẫy. Người Mường có nền văn hóa lâu đời, dân ca, dân vũ phong phú, đa dạng nhưng chưa có chữ viết riêng, ngôn ngữ theo nhóm ngôn ngữ Việt – Mường. Các dòng họ chủ yếu của người Mường là: Phạm, Nguyễn Đình, Trương Công, Quách, Cao, Lê Xuân, Bùi...
3. Dân tộc Mông
Trước năm 1992, dân tộc Mông ở Thanh Hóa chỉ có một số ít, cư trú chủ yếu ở xã Pù Nhi, huyện Mường Lát. Từ năm 1992 trở lại đây, đồng bào Mông từ các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái... di cư vào, dân số đã tăng lên 13.863 người (số liệu năm 1999). Dân tộc Mông có nhiều dòng họ, trong đó có 3 họ lớn là họ Hơ, họ Thao và họ Lầu. Hiện nay đồng bào Mông sống chủ yếu ở gần 20 chòm bản thuộc các xã Pù Nhi, Mường Lý, Trung Lý, Tam Chung, Quang Chiểu, huyện Mường Lát và một số chòm ở các huyện Quan Sơn, Quan Hóa.
Địa bàn cư trú của người Mông đều tập trung ở vùng núi cao, rừng nguyên sinh và đầu nguồn sông, suối. Cuộc sống dựa vào phát nương làm rẫy. Dân tộc Mông có tiếng nói, chữ viết riêng, có những phong tục tập quán đặc biệt để ràng buộc các thành viên trong cộng đồng. Tâm lý cố hữu của đồng bào Mông là những gì đã tin thì khó thay đổi.
Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, chính sách định canh định cư của Đảng và sự đầu tư nhiều chương trình, dự án của Nhà nước đã và đang từng bước làm thay đổi đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào Mông. Đến nay bà con dân tộc Mông đã biết giữ rừng, biết trồng cây lúa nước.
4. Dân tộc Dao
Dân tộc Dao ở Thanh Hóa tương truyền là từ Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Quảng Ninh chuyển vào khoảng 4 đến 5 đời. Dân tộc Dao ở Thanh Hóa hiện gồm 2 nhóm là Dao Tiền (tập trung chủ yếu ở huyện Mường Lát) và Dao Quần Chẹt (tập trung chủ yếu ở một số xã của huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy. Tổng số dân tộc Dao là 5.031 người (số liệu năm 1999).
Đồng bào Dao dùng chữ Nho để ghi chép, khi đọc phát âm theo tiếng Dao. Trình độ hiểu biết, khả năng giao tiếp khá năng động, nhạy bén so với các dân tộc thiểu số khác. Dòng họ lớn nhất của dân tộc Dao là họ Triệu, ngoài ra còn có các họ Phan, Phùng, Bàn... Nhà ở của người Dao làm theo kiểu nửa sàn, nửa đất nhưng đến nay đồng bào Dao ở vùng thấp đã dựng nhà gần giống như nhà của người Kinh.
Trước đây, đồng bào Dao sống du canh, du cư. Nguồn sống của bà con dân tộc Dao dựa vào nương rẫy. Từ cuộc vận động định canh định cư, phần lớn đồng bào Dao đã xuống núi tập trung sản xuất, vừa đa canh, vừa thâm canh. Mọi chòm bản đều có trường lớp cho con em đi học. Tuy sống xen ghép với các dân tộc đông người, nhưng người Dao vẫn giữ được nét riêng biệt, độc đáo của dân tộc mình về văn hóa, lễ hội và sắc phục.
5. Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Khơ Mú sống tập trung ở 2 bản: Đoàn Kết, xã Tén Tằn và Suối Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát. Dân số năm 1999 là 642 người. Dân tộc Khơ Mú không có chữ viết. Tiếng nói theo ngôn ngữ Khơ Me. Nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Khơ Mú là sống hòa thuận trong chòm, trong bản. Mối quan hệ dòng họ rất nghiêm ngặt. Tộc trưởng có quyền quyết đoán mọi chuyện. Người Khơ Mú hầu như chỉ quan hệ với bên ngoài về kinh tế, còn quan hệ tình cảm, văn hóa khép kín trong dòng tộc. Từ khi có chính sách định canh định cư của Đảng và Chính phủ, cuộc sống của đồng bào dân tộc Khơ Mú đã có nhiều thay đổi. Con trai, con gái đã được đi học, giao tiếp rộng rãi và đã lấy chồng, lấy vợ người dân tộc khác.
6. Dân tộc Thổ
Dân tộc Thổ ở Thanh Hóa có nhiều nét gần với dân tộc Mường và dân tộc Kinh. Người Thổ chỉ có một họ duy nhất là họ Lê. Dân tộc Thổ cư trú chủ yếu ở huyện Như Xuân. Dân số năm 1999: 9.464 người. Nét riêng biệt của người Thổ là bộ sắc phục của phụ nữ khá độc đáo, duyên dáng. Phương thức canh tác chủ yếu là cấy lúa nước.
7. Dân tộc Kinh
Dân số năm 1999 là 2.905.924 người. Người Kinh sinh sống ở hầu khắp các vùng trong tỉnh. Dân tộc Kinh có vị trí quan trọng trong đời sống nói chung và việc phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội ở tỉnh Thanh Hóa.
Về lịch sử, Thanh Hóa là miền đất có người tối cổ sinh sống. Thanh Hóa không những có một thời kỳ tiền sử lâu dài mà ở đây sự phát triển văn hóa của người nguyên thủy còn biểu hiện tính liên tục, rõ ràng hơn các vùng khác của đất nước. Sự liên tục còn biểu hiện rõ trong thời đại kim khí, từ các giai đoạn tiền Đông Sơn đến văn hóa Đông Sơn. Những thành tựu khảo cổ học cho thấy vào thời đại đồng thau, lưu vực sông Mã, sông Chu đã trở thành trung tâm cư trú của người Việt cổ trên đất Thanh Hóa. Họ đã biến những đầm lầy hoang, cồn bãi hoang dại ven các con sông thành những vùng đất màu mỡ và xây dựng những xóm làng đầu tiên của người Việt cổ xứ Thanh.
Người dân Thanh Hóa biết làm ruộng từ thời kỳ sơ sử. Sau này, từ thế kỷ X, dưới thời Lê, người Thanh Hóa đã mở mang mọi mặt kinh tế, nông – công – thương nghiệp.
Trong các thời đại lịch sử, người Kinh ở Thanh Hóa đã có những đóng góp quan trọng về nhân tài quản lý và nguồn nhân lực lớn cho các cuộc chiến giành và giữ gìn độc lập của nước Việt.
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/anh-2.jpg
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/dtocmuong1.jpg
Thiếu nữ dân tộc Dao.
Thiếu nữ dân tộc Mường trong ngày hội cồng chiêng.
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/anh-4.jpg
http://www.baothanhhoa.com.vn/images/newscontent/thieunu.jpg
Trang phục dân tộc Mông
Trang phục của phụ nữ dân tộc Khơ Mú.
Theo BaoThanhHoa