PDA

View Full Version : Danh Nhân Xứ Thanh !



Đọt Rau Má
03-31-2009, 04:13 PM
Xứ Thanh mình là đất địa linh nhân kiệt, nhân tài vào thời nào cũng nhiều vô kể, ở vùng nào trong tỉnh cũng có.Vì vậy mình mở Chủ đề này để các bạn giới thiệu, nêu những hiểu biết của mình về danh nhân của quê mình. Cũng là dịp để tuổi trẻ chúng ta hiểu biết về lịch sử, thể hiện niềm tự hào về quê hương mình.

Đọt Rau Má
04-18-2009, 07:30 PM
L ê Văn Hưu người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Triệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).

Theo lời các cố lão địa phương thì đất Triệu Trung vốn là trang trại của vị tổ khai sáng dòng họ Lê - quan Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên Hoàng, đến nay đã được hơn hai mươi đời. Lê Văn Hưu là ông tổ thứ bảy của dòng họ này. Cuốn Lê thị gia phả hiện còn được bảo tồn, ghi ông sinh năm Canh Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh.

Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:

Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.

Lê Văn Hưu liền đối:

Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.

Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn một cái dùi thật xinh, lại kèm theo ít tiền để mua giấy bút.

Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng Nhãn. Đây là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh hiệu tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa). Năm ấy, ông vừa tròn 18 tuổi.

Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan (chức quan trông coi việc hình luật), rồi Binh bộ Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của thượng tướng Trần Quang Khải, một trong những danh tướng của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.

Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm 1272, ông đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) cho tới Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển, được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.

Đại Việt sử ký nay không còn, nhưng vẫn có thể thấy được thấp thoáng bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên này trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên, sử thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, đã căn cứ vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên quan. Trong bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là được rồi". Tiếp đó, Ngô Sĩ Liên nói rõ, ông đã đem "hai bộ sách của tiên hiền" (tức là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên) ra "hiệu chỉnh, biên soạn lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, thành một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư". Như vậy, khó có thể phân định được đích xác đâu là nguyên văn Đại Việt sử ký trong bộ quốc sử lớn đời Lê này. Tuy vậy, rất may là trong Đại Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành vẫn còn có 29 đoạn ghi rõ là lời văn của Lê Văn Hưu với mấy chữ " Lê Văn Hưu viết ". Qua nhưng trích đoạn đó, có thể thấy được phần nào khuynh hướng cũng như sắc thái ngọn bút chép sử của ông. Trân trọng công lao đánh giặc giữ nước của Tổ tiên, ông đã nhận định về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng với những lời lẽ rất mực hào hùng: " Trưng Trắc Trưng Nhị... hô một tiếng mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố cùng sáu mươi nhăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay...". Đoạn ông ca tụng Ngô Quyền cũng thấm đượm lòng tự hào sâu sắc trước thắng lợi huy hoàng của dân tộc: " Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy... ". Quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của nhân dân, ông cũng đã nghiêm khắc phê phán những hành vi bạo ngược, trái đạo lý của vua chúa, như đoạn nhận xét về cấm lệnh " không cho con gái nhà quan lấy chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung" của Lý Thần Tông (1128 - 1137), chẳng hạn: "Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất; thánh nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ sát phu sát phụ không được có nơi có chốn... Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho mình, đâu phải là tấm lòng của người làm cha mẹ dân!".

Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1322), táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm (thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông.


* Khoảng trước năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc của dân tộc Việt rồi sáp nhập vào nước Nam Việt. Lê Văn Hưu, sau đó là các nhà sử học Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng Triệu Đà là vua nước Việt, xếp "kỷ nhà Triệu" như một triều đại chính thống trong lịch sử Đại Việt. Đây là một sự nhầm lẫn. Đến thế kỷ 18, Ngô Thì Sỹ (1726-1780) trong cuốn "Việt sử tiêu án" mới bác bỏ sai lầm này, khẳng định Triệu Đà "thực chưa từng làm vua nước ta" vì "nước Việt ở miền Nam Hải, Quế Lâm" không ở vị trí nước Việt Nam ngày nay.

Theo Lịch Sử Việt Nam - Trang chủ (http://lichsuvn.info)

Đọt Rau Má
04-18-2009, 07:47 PM
Đào Duy Từ xuất thân trong một gia đình xướng ca; người xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, Thanh Hóa; thông suốt kinh sử, rất giỏi thiên văn, thuật số. Theo Đại Nam thực lục tiền biên, năm 1592 có khoa thi hương ở Thanh Hóa, Hiến ty cho Duy Từ là con phường chèo, nên gạch tên khỏi danh sách thí sinh dự thi. Duy Từ buồn bực quay về...Với vị thế xã hội như vậy, dù tài giỏi đến đâu cũng không có điều kiện thi thố tài năng; cho nên quyết định đầu tiên của Đào Duy Từ là phải đổi mới vị thế xã hội của mình để có thể đem tài năng ra cống hiến cho xã hội.

- Trước sự khủng hoảng triền miên của Lê
- Trịnh ở Đàng Ngoài, ông quyết tìm đường lập thân ở phương Nam.
Nhưng cũng phải qua hơn 30 năm (1592-1625), sau bao gian nan lặn lội, ông mới vào gặp được chúa Nguyễn.
- Sau khi đọc bài "Ngọa Long Cương ngâm” của Đào Duy Từ do người tiến cử là Trần Đức Hòa dâng lên, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng và trao cho chức Nha úy nội tán, tước Lộc - Khê hầu, trông coi việc quân cơ trong ngoài và tham lý quốc chính. Với vị thế của tước hầu, Đào Duy Từ đã đem hết tài năng ra góp phần đổi mới xã hội Đàng Trong.

Đổi mới về quân sự

Trước hết là cống hiến về lý luận quân sự. Công trình vừa kế thừa lý luận quân sự ở Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, vừa có phát triển, đổi mới, bổ sung :
- Phát triển sâu thêm tư tưởng lấy nhân nghĩa làm đầu của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi : “Vi đại nghĩa, thắng hung tàn”.
- Đổi mới về kỹ thuật quân sự như xây đắp tường lũy, đánh hỏa công, sử dụng hỏa khí (hỏa hổ), pháo binh, đánh thủy lôi ... mà thời Trần chưa có.
- Bổ sung thêm những yếu tố quân sự lấy từ tri thức dân gian, sử
dụng những nguyên, vật liệu cần thiết cho quân nhu, quân giới, hậu cần lấy từ cuộc sống dân gian. Thứ đến là : Xây đắp tường lũy - cải tiến vũ trang. Trong cuộc nội chiến trường kỳ giữa Bắc - Nam, Trịnh - Nguyễn này, xét tương quan lực lượng thì lúc này chưa có khả năng thống nhất được đất nước, nên thái độ tích cực nhất của Đào Duy Từ là cố giành cho được hòa bình, hưu chiến. Như vậy thì Đàng Trong phải làm sao cho vững mạnh, giữ yên được bờ cõi trước sự xâm lấn của Đàng Ngoài. Đào Duy Từ đã dựa vào biên giới tự nhiên là sông Gianh, nuôi chí giữ yên bờ cõi bằng xây đắp tường lũy. Ông tâu với chúa: "Thần xem từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, phía ngoài có nước khe, bùn lầy sâu đọng, nhân đó dùnglàm hào rãnh; trong thì đắp lũy...” gây hình thế hiểm yếu để bảo vệ cõi bờ. Cạnh đó là đổi mới việc tuyển quân, chọn tướng, tin dùng cả những
bại tướng nhà Mạc chạy vào Nam, như Mạc Cảnh Huống, Mạc Kính Điển. Cải tiến vũ khí, ngoài bộ binh, tượng binh còn sử dụng pháo binh và súng tay đi kèm với pháo...

Đổi mới trong kinh tế

- Vừa khuyến khích phát triển công, thương, vừa cải tiến thu chi tài chính. Biểu hiện cụ thể như giảm thuế thu bằng hiện vật, tăng thu thuế bằng tiền, bãi bỏ lệnh độc quyền của triều đình thu mua các sản vật công, nông nghiệp để nhân dân có thể tự do mua, bán với thương nhân trong và ngoài nước, thúc đẩy được cả công, nông nghiệp lẫn nội, ngoại thương cùng tiến lên... Sản xuất phát triển, nhà nước tăng thu thuế khóa bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy quốc gia và chi phí quân lương.

Đổi mới văn hóa, khoa cử

- Tuy vẫn tuyển chọn nhân tài qua khoa cử, nhưng đã coi trọng thực tế và thực dụng hơn. Cụ thể như ngoài thi văn sách ra, còn cho thi : “Viết chữ Hoa văn”, người nào trúng được làm việc ở ba ty... Về nghệ thuật, ông coi trọng các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, đặc biệt thúc đẩy phát triển nghệ thuật tuồng vốn là truyền thống của Đàng Trong. Đào Duy Từ cũng trở thành một trong những vị tổ sư của ngành hát tuồng. Còn về thơ văn thì các bài Tư dung vãn, Ngọa Long Cương ngâm của Đào Duy Từ đã mở đầu cho một trào lưu sáng tác thơ quốc âm ở Đàng Trong, làm phong phú thêm cho văn học dân tộc.
- Năm 1634 Đào Duy Từ lâm bệnh nặng qua đời. Nhưng chỉ với 8 năm phò chúa, ông đã làm nên nghiệp lớn lao được nhà Nguyễn ghi công : “...côngnghiệp rõ ràng, đứng đầu công thần khai quốc”.

Theo Lịch Sử Việt Nam - Trang chủ (http://lichsuvn.info)

Đọt Rau Má
04-18-2009, 08:06 PM
Lê Thái Tổ (1428-1433) (Lê Lợi)

Ông tổ dựng nghiệp đầu tiên của họ Lê ở Lam Sơn - Thanh Hóa là Lê Hối. Vốn là một người chất phác, hiền hậu, ít nói nhưng cụ lại là người hiểu biết sâu xa "có thể đoán biết sự việc từ lúc còn chưa hình thành". Lúc đầu gia đình cụ sống ở thôn Như Áng, chuyên làm ruộng và sống khá phong lưu. Một hôm cụ đi dạo chơi trong rừng, thấy có rất nhiều chim tụ họp và bay lượn vòng quanh núi Lam Sơn. Biết đó là nơi "đất lành chim đậu", cụ liền dọn nhà đến ở đấy. Sau ba năm khai phá ruộng vườn, chăm lo cày cấy, cơ nghiệp nhà cụ ngày càng phồn thịnh. Đến đời ông nội rồi đời cha của Lê Lợi cũng tiếp nối và phát triển được cơ nghiệp của tiền nhân. Người cha sinh ra Lê Lợi húy là Khoáng, là người có chí khí và hào hiệp, thường nuôi dưỡng tân khách, thương yêu dân chúng, chu cấp người nghèo, giúp kẻ hoạn nạn khó khăn, vì thế cả vùng đều kính phục cụ.

Lê Lợi sinh ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (10 tháng 9 năm 1385) là con trai thứ ba và cũng là con út trong nhà. Ngay từ khi còn rất trẻ, Lê Lợi đă tỏ ra là người thông minh dũng lược, đức độ hơn người. Vẻ người ông đẹp tươi hùng vĩ, mắt sáng miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai tả có 7 nốt ruồi, bước đi nhẹ nhàng khoan thai, tiếng nói vang như tiếng chuông. Cả nhà đặt hi vọng vào người con trai út này, còn các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường. Truyền thuyết kể rằng:
Lớn lên Lê Lợi làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng biểu hiện chỉ cho ngôi huyệt phát "đế vương" ở động Chiêu Nghi. Sau đó một người phường chài là Lê Thận bắt được một lưỡi gươm cũ, khi đưa vào tay Lê Lợi thì thanh gươm không phải mài mà sáng như gươm mới. Trên thanh gươm có khắc hàng chữ triện, Lê Lợi biết là một thanh gươm quí. Hai ngày sau vợ Lê Lợi ra vườn hái rau lại bắt được một quả ấn báu cũng khắc mấy chữ lối triện, trên lưng quả ấn khắc tên họ Lê Lợi. Ngày sau nữa lại bắt được cái chuôi kiếm ở gốc cây đa, có khắc hình con rồng, con hổ và hai chữ "Thanh Thúy", đem lắp vào lưỡi kiếm đă bắt được thì vừa vặn không sai chút nào.
Từ đó ông càng tin rằng vận nước đă được trao vào tay mình, càng chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp nuôi chí và chờ thời vận.

Lúc đó quân Minh đă đánh bại cha con Hồ Quí Ly, bắt cha con họ Hồ đưa về Kim Lăng, rồi đặt nước ta thành quận huyện. Lê Lợi ngầm có chí khôi phục non sông, nên hạ mình tôn người hiền, bỏ tiền của ra nuôi binh sĩ, chiêu nạp những anh hùng hào kiệt từ khắp nơi. Những hào kiệt thời ấy như Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Nguyễn Trăi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Vũ Uy, Lê Liễu và Lê Xa Lôi đều nối tiếp nhau quy phục, Lê Lợi kính cẩn đón tiếp, cùng bí mật mưu khởi nghĩa.

Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người đồng chí chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nước kêu gọi nhân dân đồng lòng dưới cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước. Với lực lượng ban đầu không quá 2000 người, "cơm ăn thì sớm tối không được hai bữa, áo mặc thì đông hè chỉ có một manh, khí giới thì thật tay không", phải đối địch với một quân đội đông đảo có trang bị đầy đủ của giặc, nghĩa quân nhiều lần bị vây khốn. Có lúc lương cạn hàng tuần, thủ lĩnh Lê Lợi phải cho giết cả voi chiến và ngựa của chính mình để nuôi quân. Có lần bị vậy chặt, Lê Lai đă phải đóng giả Bình Định Vương Lê Lợi để mở đường cứu chúa... Song với lòng tự tin sắt đá vào vận mệnh của dân tộc, tin việc làm của mình là thuận lòng trời", với sự hợp trí hợp mưu của nhân tài cả nước, nghĩa quân đă vượt qua mọi thử thách để duy Trì và mở rộng địa bàn. Sau 10 năm chiến đấu gian khổ "nằm gai nếm mật", bằng lối đánh "lấy ít địch nhiều", cả vây thành và diệt viện, bằng những chiến thắng quyết định ở Chi Lăng-Xương Giang, Cần Trạm tiêu diệt hàng chục vạn viện binh giặc, cuối cùng quân đội Lam Sơn đă buộc giặc Minh trong các thành Đông Quan, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh phải đầu hàng. Ngày 16 tháng Chạp năm Đinh Mùi (1427), tại một địa điểm ở gần thành Đông Quan, Vương Thông-viên tướng chỉ huy đội quân xâm lược Minh đă phải tuyên thệ: xin rút hết quân về nước. Bình Định Vương Lê Lợi còn cấp 500 chiến thuyền giao cho bọn Phương Chính, Mă Kỳ đi đường thuỷ, 2 vạn con ngựa và lương thực cho bọn Sơn Thọ, Hoàng Phúc dẫn 2 vạn quân đi đường bộ. Trước đó, một chiều mùa đông năm Đinh Mùi (1427), trước khi lên đường, Phương Chính, Mă Kỳ tới đại bản doanh của Lê Lợi ở Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội) để xin cáo biệt. Hai viên tướng này lưu luyến ở lại tiếp chuyện với Lê Lợi, Nguyễn Trăi suốt cả một buổi chiều. (Theo "Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn. "Đại Việt sử ký toàn thư" "thi chép" Vương Thông cùng Lê Lợi nói chuyện từ biệt suốt đêm) Khi chia tay, Bình Định Vương sai sắm trâu rượu, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng hai viên tướng nước láng giềng. Khi ấy, các tướng sĩ và nhân dân kinh đô đều căm thù sự tàn ác mà người Minh đă gây ra, mọi người đều một lời khuyên Lê Lợi nhân dịp này giết chết cả đi, nhưng Bình Định Vương rất bình tĩnh, tỉnh táo mà dụ rằng: "Việc phục thù trả oán, là thường tình của mọi người, nhưng không ưa giết người, là bản tâm của người nhân. Huống chi người ta đă hàng, mà mình lại giết chết, thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết cả hàng đến muôn đời, chi bằng hăy cho sống ức vạn mạng người, để dứt mối chiến tranh muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền măi tới ngàn thu, há chẳng lớn ư!"

Ngày 29 tháng 12 năm đó, đại binh giặc bắt đầu rút, đến ngày 3 tháng 1 năm Mậu Thân (1428) những bóng dáng cuối cùng của quân Minh đă bị quét sạch khỏi bờ cõi.

Về phía nhà Minh khi đó, ngoài tác động của những trận đánh của nghĩa quân Lam Sơn, phải kể đến một quyết định tỉnh táo của vua Minh khi ông ta nói với quần thần rằng: "Những kẻ bàn tán, không hiểu ý muốn dứt việc can qua, tất cho rằng nghe theo thỉnh cầu của An Nam là không oai hùng. Nhưng nếu được nhân dân yên lành, thì trẫm không e ngại những lời đó?"

Thế là sau hai mươi năm phải sống dưới ách đô hộ ngoại bang, đất nước lại giành được độc lập.
Trong năm đó, Lê Lợi đă cho dựng ghi lại quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa.
Do sức ép của nhà Minh và cũng là sách lược mềm dẻo của lănh tụ Lam Sơn, trên danh nghĩa Lê Lợi vẫn phải xin cầu phong cho con cháu họ Trần là Trần Cảo làm vua. Nhưng năm Mậu Thân (1428), Trần Cảo - tự cho mình không có công gì trong cuộc giải phóng đất nước mà lại giữ ngôi vua vẫn thường áy náy không yên, bèn cưỡi thuyền ra biển, chạy vào châu Ngọc Ma (Thanh Hoá). Quân của Lê Lợi đuổi kịp dẫn trở về, cho uống thuốc độc chết, triều đình nhà Lê sai làm tang lễ rất hậu theo nghi lễ một ông vua. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428) Lê Lợi chính thức lên ngôi vua tại điện Kính Thiên, thành Đông Đô (tức Hà Nội), xưng là "Thuận thiên thừa vận Duệ văn Anh vũ đại vương", đặt tên nước là Đại Việt, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ, ban bài Cáo Bình Ngô. Khi đó ông đă 43 tuổi. Đây là sự mở đầu một thời kỳ độc lập, lâu dài nhất trong lịch sử nước ta. Để không gây sự căng thẳng với nhà Minh, Lê Lợi chưa xưng đế mà chỉ tự xưng vương. Ông nói một cách khiêm nhường: "Những vị vua có công đức lớn như các vua Vũ, Thang, Văn ... Thời Tam Đại, mà cũng chỉ xưng vương thôi, huống chi trẫm tài đức mỏng manh, đâu dám nói đến hiệu hoàng đế. Nay chỉ xưng tước vương cũng đă là quá rồi". Nhưng thực ra, đó chỉ là sách lược ngoại giao vì lúc đó nhà Minh vẫn sai sứ sang đ̣i tìm lập con cháu họ Trần. Triều đình của vua Lê đă là một triều đại độc lập với đầy đủ bề thế của bậc đế, nhưng nhà Minh cũng vẫn chỉ cho làm "quyền thủ An Nam quốc sự" mà thôi.

Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Nhà vua ra lệnh cho các quan: Tư Không, Tư Đồ, Tư Mă, Thiếu Úy, Hành Khiển bàn định luật lệnh trị quân dân, cho "người làm ở lộ biết mà trị dân, người làm tướng biết mà trị quân, để răn dạy cho quân dân đều biết là phép tắc". Nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430) Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình.

Một công việc khác không thể thiếu được đối với bất kỳ một triều đại mới lên sau hàng chục năm chiến đấu gian khổ để giành độc lập và lập nên vương triều là đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, theo công lao cao thấp mà định thứ bậc, ban biểu ngạch công thần. Đáng chú ý là trong đợt phong này, Nguyễn Trăi được làm quan Phục hầu, Trần Nguyên Hăn làm Tả tướng quốc và Phạm Văn Xảo làm thái bảo, các ông này đều được cho lấy họ vua.

Từ những đơn vị hành chính theo chế độ quận huyện của nhà Minh, nhà Lê lại chia đơn vị hành chính nước ta thành 5 đạo, đặt các chức vệ quân, tổng quản, hành khiển... ở xă đặt xă quan. Bộ máy hành chính này sẽ ngày càng được hoàn chỉnh vào các đời vua sau, nó thực sự giúp cho việc quản lư và điều hành đất nước.

Một đất nước sống chủ yếu bằng nông nghiệp, việc phục hồi phát triển nông nghiệp cũng được Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm. Ngay từ năm đầu lên ngôi, ông đă cho kiểm kê hộ khẩu, làm sổ điền, sổ hộ, đặt cơ sở để tiến hành chế độ quân điền. Để tuyển chọn nhân tài và củng cố bộ máy cai trị, nhà Lê không chỉ quan tâm đến việc cầu hiền bằng cách tiến cử mà còn đặt ra các khoa thi. Dưới thời Lê Thái Tổ đă bắt đầu mở các khoa thi để lựa chọn những nhân tài. Vua Lê Thái Tổ còn đặc biệt quan tâm đến việc bình định và củng cố miền biên cương phía Bắc và Tây Bắc. Nhà vua từng đích thân cầm quân tiến thẳng vào tận sào huyệt một lực lượng chống đối, đặt đất đó thành châu huyện và ghi vào bản đồ quốc gia.

Về mặt đối ngoại, Lê Thái Tổ nhiều lần cử các đoàn sứ bộ sang Trung Quốc để đặt mối giao bang bình thường với nhà Minh, khéo léo giải quyết những sách nhiễu của nhà Minh về việc lập con cháu nhà Trần và vấn đề tù binh chiến tranh...

Là một ông vua sáng nghiệp, đă từng "đích thân phát hết gai góc, bừa phẳng bạo tàn, thường lấy áo giáp làm đồ mặc, nội cỏ làm nhà cửa, trải qua bao nổi nguy hiểm, xông pha trước áo gươm mới quét sạch phong trần, dựng nên cơ nghiệp" nên ông rất lo các con ông "không có công lao như ta mà được hưởng cơ nghiệp của ta" sẽ làm hỏng mất sự nghiệp. Lê Thái Tổ đă từng nói: "Phàm những ông vua nối ngôi, dinh dưỡng trong cung điện thường được yên vui, không biết lập chí...". Bên cạnh ông lúc đó lại có rất nhiều công thần khai quốc vừa có công to vừa có tài năng đă được thử thách và rèn luyện qua gian khổ... Trước tình hình ấy, những năm cuối đời mình, vì quá lo cho người nối nghiệp là ấu chúa mà Lê Thái Tổ đă phạm phải sai lầm nghiêm trọng: nghi kị và sát hại công thần. Đây là sai lầm lớn nhất mà đến trước khi nhắm mắt xuôi tay chính nhà vua cũng đă tự nhận ra và ông đă dặn lại Hoàng thái tử nối ngôi rằng: "Trẫm gặp thời tao loạn, dựng nghiệp gian nan, hơn hai mươi năm mới nên nghiệp lớn, những nỗi đau khổ của nhân dân, thảy đều hiểu biết, những đường gian nan trong thế sự, thảy đều trải qua, thế mà đến khi lên ngôi, lòng người thực hay giả, cũng chưa dễ gì tỏ tường, những việc nghi ngờ, cũng chưa dễ gì phán đoán. Như vậy đạo làm vua không khó ư? Huống chi con, đương thời tuổi trẻ, nối nghiệp gian nan, nghe biết càng nông, tư lường chưa thấu. Vậy nên dốc lòng kính cẩn, như giẫm trên băng mỏng vực sâu, thờ trời đất nên hết lòng, cung phụng tôn miếu nên tròn đạo hiếu, thân ái anh em, hoà mục tông tộc, cho tới việc đối xử trăm quan và muôn dân, thảy đều nên nghĩ sao cho phải đạo. Chớ đổi phép cũ của tiên vương; chớ bỏ cách ngôn của tiên triết; chớ gần thanh sắt mà chuộng tiền tài; chớ thích đi săn mà ham dâm đăng; chớ nghe lời gièm mà xa người can thẳng; chớ dùng tân tiến mà bỏ cựu thần ..." Lời trối của Thái Tổ thật sâu sắc và thấm thía như lời dạy của tất cả những người cha có chí hướng đối với con mình. Sau khi vua trao ấn báu truyền ngôi cho Hoàng thái tử, ngày 22 tháng 8 năm Quí Sửu (1433) nhà vua băng hà ở Tẩm Điện, hưởng thọ 49 tuổi. Vua Lê Thái Tổ có hai người con trai của hai phi Quận cư Vương Tư Tề là con của Trịnh Thần Phi và Hoàng thái tử Nguyên Long là con của Phạm Thị Hiền. Nhà vua truyền ngôi cho con thứ là Hoàng thái tử Nguyên Long.

Theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư.

Đọt Rau Má
04-21-2009, 12:55 PM
Bà Triệu, hay nàng Trinh (Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh) của truyền thuyết dân gian người miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân. Quân Yên, trái núi đó vẫn giữ tên gọi ấy cho đến tận ngày nay, đứng sừng sững bên bờ sông Mã gần ngã ba Bông, thuộc địa phận hợp tác xã Định Công của tỉnh Thanh Hóa.

Thôn Cẩm Trướng thuộc xã Định Công có truyền thuyết "Đá biết nói" như sau: Vùng núi này có con voi trắng một ngà rất dữ tợn hay về phá hoại mùa màng, mọi người đều sợ. Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi vây bắt voi, lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chầy ngày xưa còn lầy lội) rồi dũng cảm nhẩy lên cưỡi đầu voi và cuối cùng đã khuất phục được con voi hung dữ. Chú voi trắng này sau trở thành người bạn chiến đấu trung thành của Bà Triệu. Nghĩa quân Bà Triệu, những ngày đầu tụ nghĩa, đã đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồi trong hốc đá, đọc bài đồng dao:


http://www.thanhhoatoday.vn/ThumbJpeg.ashx?VFilePath=/ImgUpload/DN%20X%C6%AFA/tri%E1%BB%87u%20th%E1%BB%8B%20trinh.jpeg&Width=200&Bevel=false

Có bà Triệu tướng,
Vâng lệnh trời ta.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.

Nhờ đó cả vùng đã đồn ầm lên rằng núi Quân Yên biết nói, báo hiệu cho dân chúng biết Bà Triệu là "thiên tướng giáng trần" giúp dân, cứu nước. Vì vậy hàng ngũ nghĩa quân thêm lớn, thanh thế thêm to. Họ kéo nhau xuống Phú Điền dựng căn cứ.

Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn (Phú Điền). Đây là một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dãy núi đá vôi thấp, dãy phía bắc (Châu Lộc) là đoạn núi chót ngăn cách hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình cũ, dãy núi phía nam (Tam Đa) là đoạn chót của dải núi chạy dọc sông Mã. Chân phía bắc núi Châu Lộc là sông Lèn, chân phía nam núi Tam Đa là sông Âu, xưa là một dòng sông lớn. Thung lũng mở rộng cửa về phía đồng bằng ven biển và bị chặn ngang về phía tây bởi dòng sông Lèn. ở căn cứ này, ngược sông Lèn có thể liên lạc với miền quê Bà Triệu. Là địa điểm gần biển, lại là cửa ngõ từ đồng bằng miền bắc vào Thanh, đó là một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cả công lẫn thủ.

ở đây còn có núi Chung Chinh với 7 đồn lũy tương truyền là quân doanh của Bà Triệu, nơi đã từng diễn ra trên ba chục trận đánh với quân Ngô. Dưới chân núi Tùng, còn có cánh đồng Lăng Chúa (lăng Bà Triệu), đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn ốc... tương truyền là tên cũ còn lại khi Bà Triệu đắp lũy xây thành. ở đây còn lưu hành rộng rãi truyền thuyết về ba anh em nhà họ Lý đi tìm Bà Triệu, rước Bà từ quê ra đây dựng doanh trại, sửa soạn khởi nghĩa và tôn Bà làm chủ tướng.

Cảm phục chí khí hiên ngang cứu nước của người con gái hai chục tuổi đời, dân chúng Cửu Chân theo phục Bà rất đông. Các thành ấp của giặc Ngô đều bị triệt hạ, quan lại giặc từ thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng, kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan ra Giao Chỉ ở ngoài bắc. Thứ sử Giao Châu mất tích!

Một câu nói, tương truyền là lời Bà Triệu phát ra trên núi nghĩa, nghìn thu còn vang vọng mãi:

"Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!"

Rất nhiều câu chuyện về tình dân với khởi nghĩa Bà Triệu. Đây là một ông già mù miền núi đã đi khắp nơi, dùng tiếng đàn, giọng hát của mình để ngâm ngợi cổ vũ dân chúng đứng dậy cứu nước; kia một bà cụ hàng nước cố xin cho con gái được theo quân giết giặc, còn mình thì giúp cả chõng chuối với chum nước chè xanh cho nghĩa binh đang trẩy quân qua giải khát. Dọc sông Mã, vùng Cẩm Thạch có truyền thuyết và di tích về một bà nữ tướng cưỡi voi đánh giặc Ngô. Vùng Khang Nghệ có truyền thuyết nói rằng: thời xưa sông Mã có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch Trường. Đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát như lá tre. Một chàng trai đã ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với Bà Triệu và trở thành dũng tướng của nghĩa quân. Trong một trận giao tranh trên sông nước, vì anh đi chân vòng kiềng nên đã vấp phải dây chằng mà tử trận. Giặc Ngô đang ăn mừng thắng lợi thì hai bờ sông chuyển động. Đất trời nổi cơn giận dữ, hắt rừng cây núi đá xuống lấp cạn dòng sông, chôn vùi cả mấy vạn xác thù...

Lại có câu chuyện đền Cô Thị ở xã Hà Ngọc (Hà Trung). Một cô gái rất thích quả thị, chờ đợi người yêu đi đánh giặc và khi chết biến thành cây thị. Cây thị này chỉ có một quả, không ai hái được, vì hễ ai thò tay bẻ thì cành thị lại tự dưng vút hẳn lên cao. Cành ấy đời đời ngả về phía đông nam theo hướng người yêu của cô đang ở trong quân dinh Bà Triệu. Một ngày thắng trận, chàng trai được phép Bà Triệu về thăm làng xóm thì cành cây mới chịu sà xuống và quả thị rơi vào ống tay áo của chàng....

Đứng trước nguy cơ tan rã của chính quyền đô hộ ở Châu Giao, triều Ngô phải cử viên danh tướng Lục Dận (cháu họ viên danh tướng Lục Tốn) làm thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu úy, đem khoảng 8.000 quân sang Giao Châu đàn áp nhân dân khởi nghĩa. Kết hợp dùng binh lực uy hiếp, dùng mưu mô dụ dỗ, dùng của cải mua chuộc, Lục Dận đã khiến được ba nghìn hộ ở Cao Lương (Hợp Phố) dưới quyền thủ lĩnh Hoàng Ngô đầu hàng. Sau đó, Lục Dận thận trọng tiến binh vào Giao Chỉ và Cửu Chân, khi phát quân đàn áp, khi dừng quân dùng của cải, tiền bạc mua chuộc các thủ lĩnh địa phương. Rút cục, hàng trăm thủ lĩnh nghĩa quân và hơn năm vạn dân đã phải chịu thua quân Ngô.

Truyền thuyết dân gian kể rằng: Bà Triệu đã chiến đấu chống giặc Ngô, trên ba mươi trận thắng lợi. Giặc gọi tên bà là Ngụy Kiều tướng quân (Vị tướng nữ yêu kiều), là Hệ Hải bà vương (Vua bà vùng biển mĩ lệ). Quân Ngô sợ bà, thường có câu:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà Vương nan.
(Múa ngang ngọn dáo dễ chống hùm,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó).

Cũng theo truyền thuyết dân gian, về sau có kẻ phản bội, mách với Lục Dận rằng Bà là nữ tướng "ái khiết úy ô" (yêu cái trong sạch, ghét cái nhơ bẩn). Quân Ngô liền trần truồng tiến đánh Bà. Bà hổ thẹn, giao binh cho 3 tướng họ Lý, lên núi Tùng tự vẫn.

Trên núi Tùng hiện có mộ Bà Triệu và dưới chân núi Tùng là đền thờ chính của Bà Triệu. Hội đền hằng năm ngày trước vào ngày 21 tháng hai âm lịch.

Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh người con gái kiên trinh bất khuất, người nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng "giành lại giang san, cởi ách nô lệ" muôn thuở không mờ trong tâm trí phụ nữ và dân tộc Việt Nam.

Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.


Sưu tầm.

Đọt Rau Má
04-21-2009, 01:03 PM
Vào giờ dần, ngày rằm tháng Bảy, năm Tân Sửu (941), cuối ngôi làng nhỏ thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hóa, một em bé nghèo "bố đỡ đó, mẹ xó chùa" đã ra đời. Đó là Lê Hoàn.

Cha họ Lê, tên Mịch. Mẹ họ Đặng, tên Sen. Vài năm sau khi sinh con, mẹ Lê Hoàn mất. Rồi cha cũng mất nốt. Khi Lê Hoàn mồ côi cả cha lẫn mẹ cũng là lúc Ngô Vương (Ngô Quyền) mất (944). Nước Việt phải trải qua một thời loạn lạc, sử cũ gọi là "Loạn 12 sứ quân" (944-968).

Đứa trẻ Lê Hoàn "trơ trọi một mình, cực khổ muôn chiều" ấy được một người cùng họ - một vị quan nhỏ họ Lê nuôi. Chăm học, chăm làm, chịu khó chịu khổ là nét nổi bật suốt thời niên thiếu của ông.

Trưởng thành, Lê Hoàn rời nhà cha nuôi, đi theo Nam Việt Vương Đinh Liễn. Là một người lính trí dũng khác thường, Lê Hoàn được cha con Đinh Bộ Lĩnh khen ngợi về những chiến công đánh dẹp các sứ quân, giao cho trông coi 2.000 binh sĩ.

Đến năm 971, sau khi thống nhất non sông, lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, Đinh Tiên Hoàng phong cho ông chức vụ Thập đạo tướng quân, Điện tiền đô chỉ huy sứ - tức chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc này ông tròn 30 tuổi.

Tháng 10-979, cha con Đinh Tiên Hoàng bị viên quan hầu Đỗ Thích giết hại. Sau khi Đỗ Thích bị giết, tôn Vệ vương Đinh Toàn (mới 6 tuổi) lên ngôi vua. Lê Hoàn làm Nhiếp chính trong một tình thế đầy khó khăn.

Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp nổi loạn nhưng bị Lê Hoàn dẹp tan. Phò mã nhà Đinh là Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào nam, rước vua Chămpa cùng hơn nghìn chiến thuyền toan cướp kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết. Trên biên thùy phía bắc, lợi dụng triều đình rối ren, Tống triều lộ ngay ý định thôn tính nước Việt. Tháng 6-980, nhà Tống họp quân bốn mặt, theo hai đường thủy bộ tràn vào nước Việt.

Thái hậu Dương Vân Nga cùng văn võ bá quan đã đồng lòng tôn Lê Hoàn làm vua, lấy hiệu là Lê Đại Hành trước khi xuất quân đánh giặc.

Tháng 7-980, vua Tống hạ chiếu phát quân sang xâm lược Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành vừa triển khai binh sĩ sẵn sàng chiến đấu, vừa cử sứ giả đưa thư cầu hòa để tránh nạn binh đao. Trước dã tâm và sức ép của giặc, Lê Đại Hành hạ lệnh chiến đấu, quyết bảo vệ đất nước.

Mùa xuân năm 981, ông đã mang chiến thắng trở về. Cùng với quân dân cả nước, ông đã tái tạo một Bạch Đằng, sáng tạo một Chi Lăng lịch sử, thắng lớn trên cả hai mặt trận thủy, bộ, giết tướng đầu sỏ Hầu Nhân Bảo, tiêu diệt quá nửa quân Tống, bắt tù vô kể. Vua Tống phải xuống chiếu lui quân.

Đại thắng mùa xuân 981 là đại thắng đầu tiên của một dân tộc phục hưng sau hơn nghìn năm Bắc thuộc và mở đầu kỷ nguyên Đại Việt tự chủ trước các triều đại phong kiến phương Bắc.

Trong một phần tư thế kỷ đứng đầu Nhà nước (980-1005), Lê Đại Hành rất chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước.

Về đối nội, thực hiện chống cát cứ, địa phương chủ nghĩa, xây dựng "cơ sở hạ tầng" của nền kinh tế, chính trị thống nhất.

Về đối ngoại, theo đuổi đường lối nhu thuận nhưng cương quyết xứng đáng là vị vua mà nội trị, ngoại giao đều xuất sắc.

Từ lúc trẻ cho đến khi qua đời (tháng 3 năm ất Tỵ - 1005), trong gần nửa thế kỷ oanh liệt, người anh hùng Lê Đại Hành đã hết lòng vì nước, vì dân, trong mọi hoàn cảnh luôn kiên quyết cùng toàn dân bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc và chăm lo sự nghiệp xây dựng đất nước.

Sưu Tầm.

Đọt Rau Má
04-21-2009, 01:13 PM
Trong sử cũ, thỉnh thoảng, Dương Đình Nghệ cũng được chép là Dương Diên Nghệ. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ trong Hán tự, mặt chữ Đình và chữ Diên gần giống nhau, rất dễ nhầm lẫn khi đọc cũng như khi sao chép. Dương Đình Nghệ sinh năm nào chưa rõ. Hiện tại, chúng ta chỉ biết ông mất vào năm 937. Tuy nhiên, xét việc ông nhận con nuôi và chọn con rể, cộng với một vài chi tiết có liên quan khác, cũng có thể ước đoán ông đã hưởng thọ khoảng trên dưới năm mươi tuổi.

Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng, người làng Dàng. Làng này nay thuộc xã Dương Xá, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Thời Khúc Hào cầm quyền (907 - 917), Dương Đình Nghệ từng là một trong những bộ tướng của họ Khúc. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp cha. Dương Đình Nghệ tiếp tục làm bộ tướng cho Khúc Thừa Mỹ (917 - 930 ).

Bấy giờ, Trung Quốc đang trong thời loạn lạc, các tập đoàn thống trị không ngớt tìm cách chia bè kết cánh và xâu xé lẫn nhau. Một loạt các tiểu vương quốc lần lượt ra đời. Sử gọi đó là thời Ngũ đại thập quốc (năm đời mười nước)1. Sát biên giới phía bắc nước ta là Nam Hán - một tiểu vương quốc do họ Lưu lập nên. Trong bối cảnh phức tạp đó, sự khôn khéo trong quan hệ bang giao có ảnh hưởng rất to lớn đối với vận mệnh quốc gia. Khúc Hạo nhận thức rất đầy đủ về vấn đề này, rất tiếc là Khúc Thừa Mỹ lại không kế thừa được kinh nghiệm quý giá đó. Khúc Thừa Mỹ thường gọi Nam Hán là “ngụy triều”, “ngụy tặc” và chính lời lẽ thiếu tế nhị đó đã có tác dụng khiêu khích Nam Hán. Sẵn có mưu đồ bành trướng từ trước, nhân được thêm cơ hội này, năm 930, Nam Hán đã xua quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống Nam Hán do Khúc Thừa Mỹ chỉ huy đã nhanh chóng thất bại.

Sau thất bại của Khúc Thừa Mỹ, vai trò của họ Khúc trên vũ đài chính trị của nước nhà cũng kể như chấm dứt. Triều đình Nam Hán tuy chưa kịp thiết lập một hệ thống chính quyền đô hộ vững chắc trên toàn cõi nước ta, nhưng, nguy cơ bị ngoại bang thống trị lâu dài cũng đã thể hiện rất rõ. Trước tình hình như vậy, Dương Đình Nghệ đã quả cảm đảm nhận trọng trách lãnh đạo nhân dân vùng lên giành lại độc lập và chủ quyền. Từ một vị hào trưởng - một bộ tướng thân tín của Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình Nghệ đã trở thành một vị danh tướng, có công lớn đối với nước nhà. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Dương Đình Nghệ đã ba lần đánh đuổi ba đạo quân lớn của Nam Hán do ba viên tướng khét tiếng khác nhau cầm đầu.

Lần thứ nhất: Diễn ra ngay sau khi Khúc Thừa Mỹ thất bại trong việc chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lăng. Từ quê nhà, Dương Đình Nghệ đã tập hợp được hơn ba ngàn quân, tự mình làm tướng, đánh thẳng vào lực lượng của Nam Hán lúc bấy giờ đang đóng rải rác ở khu vực Hà Nội ngày nay. Tướng giặc là Lý Khắc Chính bị đại bại.

Lần thứ hai: Nhà Nam Hán cho Lý Tiến sang thay Lý Khắc Chính và sẵn sàng đối phó một cách kiên quyết với Dương Đình Nghệ. Nhưng, Lý Tiến chưa kịp thực hiện sứ mạng được giao thì đã bị Dương Đình Nghệ đánh cho tơi bời. Lý Tiến phải hốt hoảng chạy về nước để cầu cứu.

Lần thứ ba: Nhận lời kêu cứu của Lý Tiến: Nam Hán lập tức sai tướng Trần Bảo đem quân sang đàn áp. Nhưng, khi Trần Bảo tới, thành Giao Châu đã bị mất. Trần Bảo bèn cho quân vây thành, quyết tiêu diệt bằng được Dương Đình Nghệ. Trong trận giao tranh đầu tiên, Trần Bảo bị chém đầu, toàn bộ quân sĩ Nam Hán hoảng hốt bỏ chạy thục mạng. Từ đó, giặc Nam Hán không dám đụng tới Dương Đình Nghệ nữa.

Bấy giờ, Nam Hán không phải là một nước lớn, lực lượng quân đội của chúng cũng không phải là hùng mạnh hơn người, nhưng nước ta vừa mới giành được độc lập. dân ta còn ít, tiềm lực của ta còn yếu... cho nên, đây cũng thực sự là một cuộc đối đầu hoàn toàn không cân sức. Để giành được thắng lợi vẻ vang và liên tục như Dương Đình Nghệ, ngoài chí lớn phi thường, hẳn nhiên là còn phải có mưu lược phi thường. Ông thật sự xứng đáng được xếp vào hàng những bậc danh tướng của nước nhà.

Năm 931, sau khi lập nên những võ công xuất sắc như đã kể ở trên, Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết Độ Sứ, tự mình quản lí và điều hành các công việc của nước nhà. Tiết Độ Sứ là tên chức quan đô hộ của Trung Quốc đối với nước ta, được Trung quốc đặt ra kể từ khoảng cuối thời Bắc thuộc. Đối với Dương Đình Nghệ, đây chẳng qua là một danh xưng tạm dùng, cốt tạo ra sự tế nhị cần thiết trong quan hệ bang giao. Trong thực tế, ông chính là vua của nước ta.

Tháng ba năm Đinh Dậu (937) Dương Đình Nghệ bị một kẻ phản phúc giết hại. Kẻ đó là Kiều Công Tiễn2. Chua xót thay, Kiều Công Tiễn lại cũng chính là con nuôi và là một trong những nha tướng từng được Dương Đình Nghệ cưu mang và tin cậy. Sau đó chẳng lao lâu, Kiều Công Tiễn bị Ngô Quyền giết chết. Đó là bản án đích đáng dành cho kẻ bất trung, bất nghĩa, phản phúc, phản chủ và phản dân.
___________________________________
1. Năm đời gồm: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Còn như mười nước, nếu so với bản đồ Trung Quốc hiện đại thì Ngô (ở An Huy), Tiên Thục (ở Tứ Xuyên), Ngô Việt (ở Chiết Giang), Sở (ở Hồ Nam), Mân (ở Phúc Kiến), Nam Hán (ở Quảng Đông), Nam Bình (ở Hồ Bắc), Hậu Thục (cũng ở Tứ Xuyên), Nam Đường (ở Giang Tô) và Bắc Hán (ở Sơn Tây).
2. Kiều Công Tiễn cũng đọc là Kiểu Công Tiễn.


Ngô Thì Sĩ (Việt sử tiêu án)

Đọt Rau Má
04-21-2009, 01:17 PM
“Nếu không có khanh thì Trẫm làm sao có được ngày hôm nay.
Khanh hãy cố gắng để được trọn vẹn mãi”.

Lời vua Trần Thái Tông trong Đại Việt sử kí toàn thư
(bản kỉ quyển 5, tờ 23-b)

Trong sử cũ, Lê Tần thường được chép là Lê Phụ Trần. Tên gọi này do nhà Trần ban cho ông, cốt để biểu dương công lao phò tá của ông đối với nhà Trần1. Về lai lịch hiện tại chúng ta chỉ mới biết rất vắn tắt, rằng ông người Ái Châu (nay thuộc Thanh Hóa) và là dòng dõi của Lê Hoàn. Tuy chưa rõ năm sinh và năm mất của ông, nhưng, qua ghi chép của sử cũ, chúng ta cũng có thể sơ bộ hình dung được những nét chính yếu nhất trong lí lịch làm quan của ông:

- Đầu năm Canh Tuất (1250) ông được vua Trần Thái Tông phong chức Ngự Sử Trung Tướng, Tri Tam Ti Viện Sự. Xét về thứ bậc, chức này không kém Thượng Thư bao nhiêu. Nói khác hơn, chắc chắn ông đã được bổ làm quan từ nhiều năm trước nên đến đây mới được phong tới chức này.

- Năm 1258, ông được phong làm Ngự Sử Đại Phu, được vua Trần Thái Tông đem bà Hoàng Hậu đã bị giáng là Lý Chiêu Thánh2 gả cho.

- Tháng 6 năm Kỉ Mùi (1259), ông được vua Trần Thánh Tông phong chức Thủy quân Đại Tướng Quân.

- Tháng chạp năm Giáp Tuất (1274), ông được vua Trần Thánh Tông phong tới hàm Thiếu Sư3 chức Trừ Cung Giáo Thụ4.

Sau khi chép việc ông được phong tới hàm Thiếu Sư, không thấy sử cũ chép gì về ông nữa. Về gia đình riêng không rõ ông có tất cả mấy vợ, chỉ biết rằng bà Lý Chiêu Thánh đã sinh hạ cho ông hai người con, gồm một trai và một gái. Nhà Trần coi gia đình ông không khác gì thành viên của hoàng tộc. Khi mất, có lẽ ông cũng ở khoảng tuổi trên dưới bảy mươi.

Khi đất nước thái bình, Lê Tần là một đấng lương thần giàu lòng trung nghĩa và thực sự có tài. Ngoài những trọng trách mà triều đinh đã tin cậy trao phó, Lê Tần từng là chánh sứ của nước ta sang Mông Cổ ngay sau khi chúng vừa bị quân dân ta đánh cho đại bại. Tài biện bạch của ông đã khiến cho triều đình Mông Cổ phải nể phục. Và, như trên đã nói, ông từng là Trừ Cung Giáo Thụ, người trực tiếp dạy vua Trần Nhân Tông, khi nhà vua còn ở ngôi Hoàng Thái Tử. Công việc nặng nề và khó khăn này, phải là những người tài trí và dày dạn kinh nghiệm như ông mới có thể đảm đương nổi.

Khi đất nước chiến tranh, Lê Tần là một trong những vị danh tướng gồm đủ cả vũ dũng và mưu lược, có năng lực phân tích thực tiễn một cách nhạy bén và sâu sắc. Tên tuổi của Lê Tần gắn liền với trận Bình Lệ Nguyên và với thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1258.

Đầu năm 1258, khi nghe tin giặc Mông Cổ, dưới sự chỉ huy của U-ri-ang-kha-đai, men theo sông Hồng để tràn xuống nước ta, vua Trần Thái Tông lập tức đem đại quân lên Bình Lệ Nguyên để ứng chiến. Đó là một quyết định thể hiện khí phách rất ngoan cường, nhưng đó cũng chính là một sai lầm nghiêm trọng trong nghệ thuật cầm quân. Bình Lệ Nguyên là vùng trung du, nơi mà kị binh Mông Cổ có thể phát huy hết sở trường chiến đấu, ngược lại bộ binh của ta sẽ rất dễ bị lúng túng, dễ bị giặc bao vây, chia cắt và nhanh chóng tiêu diệt. Diễn biến của những trận đánh đầu tiên đã thể hiện rất rõ điều này. Sử cũ chép:

“Vua tự mình ra đốc chiến, xông pha trong chốn tên đạn, nhưng quan quân thì hơi nao núng. Vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ thấy có Lê Tần là một mình một ngựa, ra vào trận giặc mà mặt vẫn bình thản như không.

Bấy giờ, có người khuyên Vua nên bám lại (ở Bình Lệ Nguyên) để chỉ huy chiến đấu. Lê Tần cố sức can Vua, nói rằng:

- Bệ hạ nếu làm như vậy thì có khác gì dốc hết túi tiền cho một canh bạc mà chưa rõ được thua? (Thần nghĩ) là hãy nên tạm lánh chúng chớ tại sao lại có thể dễ dàng tin lời ngươi ta như vậy.

Vua nghe, bèn lui quân đóng ở sông Lô5 Lê Tần đi phía sau. Giặc bắn loạn xạ. Lê Tần phải lấy ván thuyền để che cho vua khỏi trúng tên của giặc.

Thế giặc rất mạnh. Vua lại lui về giữ sông Thiên Mạc6, Lê Tần đi theo bàn việc quân cơ, rất ít ai được biết rõ những việc này” 7.

Đoạn ghi chép ngắn ngủi nói trên, tự nó đã toát lên hai điều rất đáng suy nghĩ. Một là, Lê Tần quả đúng là bậc có dũng khí hơn người. Ông tả xung hữu đột nơi trận mạc, cái chết luôn cận kề mà sắc mặt vẫn bình tĩnh như không. Nhưng, đáng kính nhất vẫn là ở chỗ, ông dám can gián nhà vua, phê phán một cách quyết liệt đối với ý kiến sai lầm. Quân pháp xưa cho phép chủ tướng có thể chém đầu kẻ dám làm sai mệnh lệnh huống chi trong trận ác chiến này, chủ tướng cũng chính là nhà vua, người có quyền hành cực lớn ở trong tay. Lê Tần đã lấy tính mạng của chính mình để bảo đảm cho ý kiến của mình vậy. Nếu không phải là bậc có dũng khí phi thường, quyết không thể nói được lời quả cảm như vậy, cũng nếu không phải là bậc có dũng khí phi thường, quyết không thể có đủ bình tĩnh và sáng suốt để nghĩ được những ý nghĩ sâu sắc như vậy. Lê Tần chính là người đã đặt nền tảng đầu tiên cho kế sách tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng mà sau này, Trần Quốc Tuấn và các vị tướng lĩnh xuất sắc đã kế thừa và nâng lên thành một nghệ thuật rất độc đáo. Hai là, nếu Lê Tần dám nói, thì kính thay, vua Trần Thái Tông cũng là người dám nghe. Khi ở ngôi cao quyền cả, nhất lại là lúc tình thế hiểm nghèo, thói thường, người ta sẽ khó chấp nhận những ý kiến trái ngược với mình. Nhưng, may mắn thay, và cũng là cảm động thay, vua Trần Thái Tông đã kịp thời nhận ra và vui vẻ làm theo đề nghị của Lê Tần. Các vị tướng lĩnh cao cấp khác, trong đó có lão tướng Trần Thủ Độ, cũng nhiệt thành và kiên quyết ủng hộ Lê Tần. Chỗ vua tôi tương hợp chính là ở đây. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi cũng chính là ở đây. Lê Tần thực sự xứng đáng với biệt danh Lê Phụ Trần mà nhà Trần đã ban tặng cho ông.
_________________________________
1. Tên gọi này nghĩa là: người đàn ông họ Lê đã có công phò tá nhà Trần.
2. Lý Chiêu Thánh bị giáng ngôi Hoàng Hậu năm 1237.
3. Thời này, chức hàm cao nhất trong quan lại là Tam Thái (Thái Sư, Thái Bảo, Thái Phó) và Tam Thiếu (gồm Thiếu Sư, Thiếu Bảo, Thiếu Phó).
4. Chức lo việc dạy cho Thái Tử, người sẽ được lên nối ngôi vua.
5. Đoạn sông Hồng từ Bạch Hạc trở xuống.
6. Đoạn sông Hồng chảy qua huyện Châu Giang, Hải Hưng.
7. Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 5, tờ 22-a).

Đọt Rau Má
04-21-2009, 01:19 PM
Trần Khát Chân là người thuộc dòng dõi của Trần Bình Trọng quê ở Hà Lãng, huyện Vĩnh Ninh. Đất quê ông nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Canh Tuất (1370) (tư liệu này là của các tác giả Sổ tay nhân vật lịch sử Việt Nam1. Nếu các tác giả Sổ tay nhân vật lịch sử Việt Nam đúng thì năm 1389, tức là năm ông mới 19 tuổi, đã được triều đình phong làm tướng cầm đầu đội quân Long Tiệp và được Nhà vua đích thân trao phó trọng trách, làm Tổng chỉ huy quân đội nhà Trần đi đánh quân Chiêm Thành đang tràn ra cướp phá nước ta.

Thời Trần Khát Chân là thời suy vi của triều Trần. Những cuộc chiến tranh triền miên và khốc liệt đối với các lân bang đặc biệt là đối với Chiêm Thành, đã làm cho tiềm lực quốc gia ngày một kiệt quệ. Các vua cuối đời Trần phần lớn là bất tài và bị quyền thần lấn át, thậm chí là bị bức tử2.

Bấy giờ, Chiêm Thành đang lúc hưng thịnh. Vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga nhiều phen đem quân ra cướp phá nước ta, có lúc, chúng đã thiêu trụi cả kinh thành Thăng Long, buộc vua tôi nhà Trần phải bỏ chạy tán loạn. Nhà Trần đã sai hầu hết các tướng dốc hết lực lượng ra để chống trả, nhưng không sao đánh bại được quân Chiêm Thành. Bấy giờ, hễ tướng nào bị sai ra trận cũng kể như hết hi vọng sống sót trở về. Tình thế rất thê thảm. Năm Kỉ Tị (1389), quân Chiêm do đích thân Chế bồng Nga cầm đầu lại tiến ra. Thượng Hoàng nhà Trần là Trần Nghệ Tông sai Trần Khát Chân cầm quân đi đánh trả. Sử cũ chép rằng:

“Tháng 11 năm Kỉ Tị (1389 - NKT), Thượng Hoàng sai Trần Khát Chân chỉ huy quân Long Tiệp đi đánh giặc. (Trần) Khát Chân vâng mệnh, khảng khái nhỏ nước mắt, lạy tạ rồi ra đi Thượng Hoàng cũng khóc, lau nước mắt tiễn đưa. Quân ta xuất phát từ sông Lô (tức sông Hồng - NKT), mới đến Hoàng Giang đã gặp giặc. (Trần) Khát Chân quan sát, thấy (địa hình) nơi đó khó lòng tổ chức đánh trả, bèn lui về giữ sông Hải Triều (tức sông Luộc - NKT). Em trai của Linh Đức (tức Trần Phế Đế: 1377- 1388) là (Trần) Nguyên Diệu muốn báo thù cho Linh Đức (vì Linh Đức bị Hồ Quý Ly xúi giục Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông bức tử - NKT), liền đem quân đi đầu hàng giặc”3.

“Bấy giờ, (Chế) Bồng Nga cùng với (Trần) Nguyên Diệu dẫn hơn một trăm chiến thuyền đến dò xét cách bài binh bố trận của quân ta. Chiến thuyền giặc chưa kịp ổn định hàng ngũ, thì có tên bề tôi nhỏ của (Chế) Bồng Nga là Ba Lậu Kê, vì bị (Chế) Bồng Nga trách phạt, sợ bị giết, đã chạy sang trại quân của ta, chỉ vào chiếc chiến thuyền sơn màu xanh, nói rằng đó là thuyền của vua nước hắn. (Trần) Khát Chân hạ lệnh cho quân sĩ, nhất tề nhả đạn. Thuyền của (Chế) Bồng Nga bị lủng ván và (Chế) Bồng Nga trúng đạn mà chết. Người trong thuyền hắn kêu khóc ầm ĩ cả lên. (Trần) Nguyên Diệu vội cắt lấy đầu của (Chế) Bồng Nga chạy về với quan quân (để mong được tha tội - NKT), nhưng, tướng giữ chức Đại Đội Phó Thượng Đô ở quân Long Tiệp là Phạm Nhữ Lặc và viên Đầu Ngũ là Dương Ngang liền giết luôn cả (Trần) Nguyên Diệu, chiếm lấy đầu của (Chế) Bồng Nga. Quân giặc liền tan vỡ.

(Trần) Khát Chân liền sai viên Giám Quân là Lê Khắc Khiêm, bỏ đầu giặc vào hòm, chạy thuyền gấp về hành tại (của Thượng Hoàng) ở Bình Than để báo tin thắng trận. Bấy giờ, đồng hồ đã điểm canh ba (tức vào khoảng từ 23 giờ khuya đến 01 giờ sáng - NKT), Thượng Hoàng đang ngủ say, giật mình tỉnh giấc, cứ ngỡ là quân giặc đã đánh vào đến tận ngự doanh (chỉ nơi ở của Thượng Hoàng hoặc là vua ở ngoài kinh đô - NKT). Đến khi nghe tin thắng trận, lại lấy được cả đầu của (Chế) Bồng Nga, thì rất là vui mừng. (Thượng Hoàng) liền cho gọi các quan đến để xem cho kĩ. Các quan mặc triều phục, đến và hô “vạn tuế !”. Thượng Hoàng nói:

Ta với (Chế) Bồng Nga cầm cự nhau đã lâu nhưng mà nay mới thấy mặt nhau. Việc này nào có khác gì chuyện Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Võ. Thiên hạ yên rồi”4.

Chiến thắng của Trần Khát Chân đã khiến cho quân Chiêm Thành phải ngưng các cuộc tấn công vào Đại Việt, nhưng, thiên hạ chưa phải là đã được yên như lời của Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông. Sau khi lập được công lớn này, Trần Khát Chân được phong làm Long Tiệp Phụng Thần Nội Vệ Thượng Tướng Quân, tước Vũ Tiết Quan Nội Hầu. Rất tiếc là ông đủ tài năng và dũng khí để giết Chế Bồng Nga nhưng lại không sao có thể bảo toàn được tấm thân trước những biến cố phức tạp của triều Trần diễn ra sau đó chẳng bao lâu. Bấy giờ, Hồ Quý Ly ngày một chuyên quyền, mưu cướp ngôi của họ Trần đã thể hiện ngày một rõ. Trần Khát Chân cùng một loạt tướng lĩnh và quan lại lập mưu để giết Hồ Quý Ly khi Hồ Quý Ly vào dự hội thề tại Đốn Sơn (Thanh Hóa). Nhưng vì chính sự chần chừ của Trần Khát Chân mà Hồ Quý Ly biết được mưu kế của bá quan văn võ. Và, Hồ Quý Ly đã không ngần ngại chủ động ra tay. Trần Khát Chân cùng với 370 người bị Hồ Quý Ly giết hại. Sự kiện này xẩy ra vào năm Kỉ Mão (1399). Như trên đã nói, nếu các tác giả Sổ tay nhân vật lịch sử Việt Nam đã xác định đúng năm sinh của Trần Khát Chân, thì khi mất, ông mới 29 tuổi.
___________________________________
1. Sách đã dẫn. Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1990, trang 19.
2. Vua bị chết trận: Trần Duệ Tông (1372-1377); vua bị bức tử: Trần Phế Đế (1377-1388) và Trần Thuận Tông (1388-1398). Vua bị cướp ngôi: Trần Thiếu Đế (1398 – 1400). Quyền thần khét tiếng nhất: Hồ Quý Ly. Chính Hồ Quý Ly đã cướp ngôi của nhà Trần vào năm 1400.
3. Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển 8, tờ 16-a).
4. Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ. quyển 8, tờ 17a-b và tờ 18-a).
__________________

Đọt Rau Má
04-25-2009, 01:49 PM
Lê lai người thôn Dựng Tú, sách Đức Giang, huyên, Lương Giang ( nay là làng Tép, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc), cha tên là Kiều nối đời làm phụ đạo, sinh hai con trai, con trưởng tên Lê Lạn, con thứ tên Lê Lai. Lê Lạn cùng Lê Lai theo Lê Lợi đánh giặc ngay từ những năm đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Năm 1424 trong trận chiến đấu ác liệt ở ải Khả Lưu, một cửa ải xưa ở phía Bắc sông Lam thuộc xã Mặc Điền ( nay là xã Vĩnh Sơn huyện Anh Sơn Nghệ An). Ông bị hy sinh, sau được truy tặng là Thái phó Hiệp Trung hầu, gia tặng là HIệp quận công.



http://www.thanhhoatoday.vn/ThumbJpeg.ashx?VFilePath=/ImgUpload/DN%20X%C6%AFA/l%C3%AA%20lai.jpeg&Width=200&Bevel=false

Lê Lai tính cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cần cho Lê Lợi rất chu đáo, công lao rõ rệt. Mùa đông năm Bính Thân (1416) Lê Lợi cùng 18 vị tường thân cận tổ chức hội thề, nguyện sống chết có nhau. Ông là người thứ 2 trong số 19 người, Ông được trao chức Tổng quản phủ đô tổng quản, tước quan Nội Hầu. Năm Mậu Tuất (1418) lúc Lê Lợi mới dựng cờ khởi nghĩa tại đất Lam Sơn, lúc đó tướng ít, quân thiếu , bị tướng nhà Minh là đô đốc Chu Quảng điều quân từ thành Tây Đô ( Vĩnh Lộc) vây đánh ở Mường Một (nay là vùng Bát Mọt huyện Thường Xuân) Lê Lợi chạy thoát về đóng ở Trịnh Cao, vùng này hẻo lánh không có dân ở, tướng giặc chia quân chặn giữ những nơi hiểm yếu, tình thế cấp bách nguy khốn vô cùng. Lê Lợi hỏi các tướng: “ Ai giám đổi áo thay ta đem quân ra đánh giặc xưng danh hiệu của ta, bắt chước như Kỷ Tín đời Hán, để cho ta có thể giấu tiếng nghỉ binh tập hợp tướng sỹ mưu tính cuộc nổi dậy về sau”. Trong khi chưa ai hưởng ứng lời kêu gọi Lê Lai đã đứng dậy dõng dạc “Tôi xin đi, sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi khiến cho con cháu muôn đời được nhớ ơn nước đó là nguyện vọng của tôi vậy”. Lê Lợi rất thương cảm nói với Lê Lai và các tướng sỹ “Bây giờ nguy khốn thế này, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi đều bị tiêu diệt sợ sẽ vô ích, nếu theo kế này may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?” nói rồi vái trời mà khấn rằng: “Lê Lai có công đổi áo sau này tôi và con cháu tôi, cùng con cháu các tướng tá công thần nếu không nhớ công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn máu thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”. Lê Lai lập tức dẫn 2 con voi và 500 quân xông thẳng tới trại giặc khiêu chiến. Giặc dốc hết quân ra đánh, Ông cưỡi ngựa tốt xông thẳng vào giữa trận, hô to: “ Chúa Lam Sơn chính là ta đây”, rồi đánh giết được rất nhiều giặc, khi đã kiệt sức Ông bị địch bắt xử cực hình. Sau đó chúng lui về thành Tây Đô vì yên chí là đã diệt được thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn nên chủ quan phòng bị lỏng lẻo; nhờ đó mà vòng vây nới lỏng, Lê Lợi vừa có thời cơ nghỉ binh nuôi nhuệ khí để có thể trăm trận trăm thắng và lấy được thiên hạ. Chủ tướng Lê Lợi cảm động vì lòng trung nghĩa đã sai người ngầm đi tìm di hài Ông đem về mai táng ở Lam Sơn. Năm 1428, giặc Minh bại trận phải ký hoà ước Đông Quan rút quân về nước, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế ở điện Kính Thiên (Hà Nội) lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Xét công lao các tướng trong chiến trận, nhà vua phong Ông là công thần hạng nhất tặng là Suy trung Đồng Đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần, hàm thiếu uý, thụy là Toàn Nghĩa. Tháng 12 năm sau nhà vua sai Nghuyễn Trãi viết 2 bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của Lê Lai, để vào trong hòm vàng, lại gia phong cho Ông hàm Thái Uý. Năm Thái Hoà thứ nhất (1443) dưới triều vua Lê Nhân Tông ba tặng là Bình Chương quân quốc trọng sự, ban cho túi kim ngư ấn vàng tước huyện thượng hầu

Ông có 3 con trai, con trưởng là Lư, con thứ là Lộ, con út là Lâm, đều là người gan dạ có tài năng. Noi theo tấm gương trung dũng một lòng vì nước của Cha và Bác, cả 3 người đều tham gia trong đội ngũ nghĩa quân Lam Sơn ngay từ những năm đầu, được vua Lê Thái Tổ yêu thương chăm sóc chẳng khác con mình. Năm Ất Tỵ (1425) Lê Lư vây thành Nghệ An cùng các tướng chia quân đánh các nơi, bị hy sinh tại trận, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) được tặng Thiếu Uý. Năm Hồng Đức thứ 15 (1484) tặng là Kiến Tiết hầu, về sau gia tặng là Kiến Quận Công.

Lê Lai là một tấm gương vì nước hy sinh oanh liệt con cháu Ông đều nối nghiệp nhà làm nên công lớn, cùng trời đất núi sông thật xứng đáng với truyền thống của cha ông. Đương thời Lê Thái Tổ đã thề phải bảo vệ họ hàng con cháu của Lê Lai và chịu ơn Lê Lai suốt đời

Đền thờ Lê Lai ở làng Tép người ta cũng gọi là đền Tép xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc ngày nay. Đền thờ gòm có tiền đường và hậu cung, tương truyền hậu cung cũng chính là nơi ở trên, mộ ở dưới mà theo cách gọi truyền thống là “ thượng sàng hạ mô ”. Bên trái phía đông người ta xây dựng một đền nhỏ hơi gọi là đền bà đẻ thờ bà Lê Thị Đạo là vợ Lê Lai ( dân địa phương gọi là A Thiên ), trước tiền đường là sân đền. Cổng lên xuống được xây 9 bậc. Trước sân có một hồ bán nguyệt. Hồ này có nét đặc sắc là có tiếng vọng rất vang. Nếu một người đứng ở trung tâm bến nước nói giọng bình thường thì tiếng vang có thể đủ cho bốn hoặc năm trăm người nghe rõ.

Tuyên truyền ngày Lê Lai đổi áo cứu chủ rồi bị xử cực hình là ngày mùng bảy tháng riêng năm 1418 nên ngoài ngày giỗ ông trước ngày giỗ Lê Lợi một ngày là hăm mốt tháng tám âm lịch; Dân trong vung còn tổ chức giỗ chính ông vào mùng bảy tháng riêng hàng năm.

Đọt Rau Má
04-25-2009, 01:50 PM
Sinh ra trong những ngày vua cha Lê Thái Tổ đang cùng nghĩa quân Lam Sơn trải “10 năm nằm gai nếm mật’’ trong lò lửa cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của dân tộc Đại Việt, tuổi thơ của Thái tử Lê Nguyên Long hẳn không tránh khỏi lao đao vất vả.

Cung từ Tuyên mục Hoàng Thái Hậu họ Phạm, huý là Ngọc Trần, người xã Quần Lai, huyện Lôi Dương sinh Thái Tông ngày 22-11 năm Quí Mão (1423). Đây là thời kỳ đầy gian khổ của nghĩa quân Lam Sơn. Lê Thái tổ cùng nghĩa quân phải luôn di chuyển không ở yên chỗ nào; Hoàng Hậu lặn lội theo hầu vô cùng vất vả. Năm 1425 theo kế của Nguyễn Chích, nghĩa quân Lam Sơn đánh vùng Nghệ An. Trong cuộc chiến đấu gay go với quân địch ở Hưng Nguyên, ngày 25 – 3 Hoàng Hậu đã tình nguyện hi sinh làm vật tế thần để giúp nghĩa quân thắng giặc; lúc ấy Thái Tông mới 3 tuổi. Năm 1428 Nguyên Long được phong tước Lương Quận Công; 1429 được lập làm Hoàng Thái Tử.

Tháng 8 năm 1433, sau 5 năm đất nước sạch bóng quân thù, Lê Lợi đã lên ngôi Hoàng Đế, cũng là thời kỳ đầy vất vả khó khăn của Đại Việt sau chiến tranh với bao công việc bộn bề của công cuộc khắc phục hậu quả 20 năm dưới ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh xâm lược.

Chính trường Đại Việt của nhà Lê sơ những năm sau chiến tranh bắt đầu đi vào quy luật tất yếu của xã hội phong kiến; vừa ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng chế độ xã hội mới, đồng thời nảy sinh những phe phái công thần tranh giành công lao và quyền lực. Khi cảm thấy sức mình đã đến hồi cạn kiệt, Lê Thái Tổ tiến hành công việc chuẩn bị bàn giao quyền lực cho người kế tục. Quốc Vương Tư Tề - Người kế vị đương nhiên, đã sớm bộc lộ là kể không đủ khí chất của vị thủ lĩnh, của người kế vị ngai vàng, đã bị Lê Thái Tổ phát hiện và phế truất.

Sử sách không chép rõ những việc làm “ Cuồng dại, trái nghịch ”của Tư Tề, nhưng trong dụ và chiếu của Lê Thái Tổ ban, chúng ta thấy được mức độ trầm trọng của sự sa sút, tha hoá của Quốc Vương Tư Tề, cùng với nổi niềm của của Đức Thái Tổ: “ Tư Tề ngang ngược với thần, khinh lờn cả trời, không hiếu thảo với cha mẹ, không noi theo đường lối của các hiền triết xưa”.

Vậy giáng Tư Tề xuống làm Quận Vương... “Hoàng Thái Tử tuy còn thơ ấu, nhưng tính nhân từ hiếu thảo bấy lâu đã tự lộ ra ngoài, được mọi người hoà thuận tuân theo, đáng hưởng ngôi báu. Vậy có thể trao cho kiếm và ấn để thay Trẫm cai quản việc nước”.

Sau cái chết của vua cha, ngày 5 - 9 – 1433 Lê Thái Tông lên ngôi, lúc ấy mới 11 tuổi. Theo di mệnh của Đức Thái Tổ cao Hoàng Đế, bởi vua còn nhỏ tuổi, đại tư đồ Lê Sát được giao làm phụ chính để giúp Thái Tông cai quản việc nước.

Vốn bản chất thông minh bẩm sinh, lại được sự giáo dưỡng của những bậc cận thần, tuy còn nhỏ tuổi và cũng chỉ được hưởng sự giáo dục rất ngắn ngủi, Lê Thái Tông đã sớm bộc lộ tài năng của người đứng đầu triều chính.

Xã hội Đại Việt trong buổi đầu thời Lê Sơ đã bộc lộ một số tư tưởng hưởng lạc, công thần của các quan lại có công thời lập quốc. Từ khi Thái Tổ mất, tư tưởng công thần, gièm pha, nịnh nọt tranh giành quyền lực trong hàng ngũ quan lại cao cấp của triều đình ngày càng lộ rõ. Lợi dụng vua còn nhỏ tuổi, mới lên ngôi, Đại Tư Đồ phụ chính Lê Sát đã tham mưu giết một loạt các đại thần khai quốc như: Lê Nhân Chú, Biếm Chức Nam, Đạo Hành Khiển, Lê Khắc Phục xuống làm đại tổng chánh, đày giám sinh Nguyễn Đức Minh đi châu xa, giáng chức nhập nội thiếu bảo Lê Khả xuống làm Tuyên Uý đại sứ ở Lạng Sơn..., đưa những người thân tín của mình vào triều. Các đại thần phần lớn lạm quyền sai binh lính làm việc, xây dựng nhà cửa cho riêng mình. Mầm mống của sự huỷ hoại nền chính trị nước nhà được Nguyễn Trãi cảnh cáo: “ Nguyễn Thúc Huệ (Nội mật viện) là hạng tài mọn, chỉ chăm lo đục khoét vơ vét, thế mà hắn giữ chức then chốt trong nước, hễ có tâu bày điều gì, hắn chỉ muốn làm thiệt dân, đem lợi về nhà quan để dua nịnh bề trên.....” ngay cả đến người dân bình thường như Cao Sư Đăng, khi làm thợ sơn sửa chữa tháp Báo Thiên, do công việc quá nặng nhọc, cũng bất bình than thở: : “ ... đại thần thì ăn hối lộ, cắt dùng kẻ nọ người kia chẳng làm nên được công trạng gì cả! có hay gì mà nịnh phật? ”.

Đội ngũ quan lại đầu triều đi vào con đường hưởng lạc, tha hoá, đến nỗi Thái Tông phải kêu lên: “ người giữ tiền bạc, để bê trễ đọng lại, cố ý làm khó khăn; kẻ coi quân đội, không thương xót binh lính. Còn cai trị dân, thì không lo chăn dắt nuôi dạy, chỉ buông tha cho bọn giàu có, riêng trút sai dịnh vào hạng bần cùng; xử kiện thì không giữ công bằng, chỉ nghĩ đến bè đảng và an hối lộ; làm việc thì không cần mẫn, chỉ chè chén và tiệc tùng. Những kẻ canh giữ quan ải, không nghĩ đến việc kiểm tra xét hỏi, chỉ mưu tính buôn bán để làm giàu”.

Trước một thực trạng xã hội có nhiều phức tạp, Sa sút, vừa mới lên ngôi, tuy tuổi còn nhỏ nhưng Thái Tông đã bộc lộ tài năng thâm bẩm, khẳng quyết nhiều vấn đề cấp thiết để ổn định tình hình xã hội, xây dựng đất nước.

Trong lĩnh vực chính trị, Năm 1434, vừa lên ngôi được mấy tháng Lê Thái Tông đã ban sắc cầu người hiền, nhưng đã không được thực thi nghiêm túc như mong muốn: nhiều quan lại không tiến cử được ai, còn người cử được lại cử người không thực tài. Rút kinh nghiệm tiền nhân, Thái Tông mở rộng thêm điều kiện: Cho phép nhiều người cử một người nếu thấy thực tài, đảm bảo tìm được người tài cả về số lượng lẫn chất lượng

Đối với quan cháu quan lại, nhằm giảm bớt đặc quyền đặc lợi, ông ban lệnh bắt buộc “ con cháu ngành đích của các quan từ lục phẩm trở lên, được miễn thuế thân và mậu dịch, phải khai tên và vào học Quốc Tử Giám để đợi bổ dụng, nhưng vẫn ghánh việc đê điều và đăng lính nếu có động”

Nhằm ngăn chặn tình trạng đang phổ biến trong đội ngũ quan lại công thần lợi dụng chức sắc để bóc lột sức lao động của nhân dân phục vụ việc riêng tư; một mặt, Thái Tông ra lệnh cho Phan Thiên Tước đi điều tra dò xét; Mặt khác ông hạ lệnh cho các quan không được coi thường việc dùng sức dân chúng. Ông cho rằng lúc này phát triển kinh tế ( Nông nghiệp) là công việc cần thiết. Vì vậy, lệnh cho các tướng và quan bản bộ từ huyện, trấn thuộc các đạo không được đụng đến sức dân một cách khinh thường.

Để ngăn chặn và làm trong sạch đội ngũ quan lại, năm 1435, Thái Tông bí mật cho người đi thăm dò thực trạng các quan thanh liêm hay tham nhũng ở trong kinh và ngoài các trấn, lộ để tâu vua. Trong chiến dịch này, những người cáo giác, phát hiện được hưởng 2 bậc, đã bắt được 53 quan lại tham ô, làm trái , có chức từ tuyên uý tướng hiệu đến Tuyên phủ, Chuyển vận và Tuần sát, giao cho quan pháp lý xét hỏi.

Lê Thái Tông cũng là vị Vua đầu tiên ra thể lệ, đặt phép khảo hạch công trạng các quan văn, võ. Ngay năm thứ 2 lên ngôi, Ông chuẩn lệnh: “ ...Tất cả ( các quan văn, võ) đều phải kê khai thành bản sự trạng về nết tốt và lầm lỗi, chia làm 3 bậc, cần rõ ràng, thoả đáng không được thiên lệch, tự vị...” . Trong thủ tục hành chính, có lẽ Lê Thái Tông là vị vua đầu tiên đặt ra thể lệ cấp “giấy đi đường” ( giấy giới thiệu, giấy thông hành) cho các đối tượng quân nhân ở các địa phương, nhằm giúp cho việc quản lý nhân sự chắt chẽ và tránh ẩn lậu, tránh được những việc làm mờ ám.

Tháng 4 năm 1435, vua ban chiếu cấp phất giấy tờ “lộ dẫn”: “ Phàm quân và dân ở các lộ vào kinh đô vì có việc quân hoặc vì có việc buôn bán, hay là các nha thuộc Kinh đô có việc đi ra các lộ đều phải do quan trên mà mình thuộc quyền, cấp phát giấy tờ chứng nhận. Các nơi quan ải và bến sông phải kỹ càng kiểm tra xét hỏi giấy tờ rồi mới cho phép đi lại thông đồng”

Để tìm người hiền tài giúp nước, Lê Thái Tông đặt khoa thi Tiến sĩ, sau thành lệ định kỳ. Thi cử là công việc được đặt ra từ thời Lý, Nhưng đến Lê Thái Tông mới được quy định một cách cụ thể về thời gian cũng như nội dung các kỳ thi Tiến sĩ. Tháng 8 /1434 Lê Thái Tông bàn việc mở khoa thi Tiến Sĩ , để từ năm 1439 tổ chức khoa thi Hội đầu tiên và từ đó về sau, cứ 3 năm tổ chức kỳ thi Tiến sĩ, lấy làm lệ, ai trúng thì đỗ Tiến sĩ xuất thân. Phép thi cũng được quy định cụ thể, rõ ràng gồm 4 kỳ. Kỳ I: Thi kinh nghĩa 1 bài, tứ thư nghĩa( tức 4 sách của nhà nho: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử) mỗi sách một bài. Tất cả các bài thi phải viết ít nhất 300 chữ trở lên. Kỳ II: Phải làm một bài chiếu, 1 bài tế, 1 bài biểu, (là các loại tấu , chương của vua quan), phải viết từ 1000 chữ trở lên.

Lúc bấy giờ, Giáo quan cũng trong tình trạng như các quan lại trong triều, phần lớn không xứng chức, lại hay chê bai, nói xấu lẫn nhau. Để giải quyết tình hình, tháng 8/1435, Lê Thái Tông cho mở kỳ thi tại Tập đường để sát hạch các Giáo chức và những người có học trong quân dân cả nước. Đối tượng dự thi rất rộng: Từ các Giáo chức ở Quốc tử giám và các lộ, đến các quân dân có học ở tất cả các địa phương; được dự thi một cách bình đẳng. Nhà vua “căn cứ vào kết quả thi để xét bổ dụng hoặc sa thải. Chân giáo chức nào khuyết sẽ lấy những người quân và dân đã thi đỗ và bổ dụng”

Về kinh tế, Lê Thái Tông là vị vua trẻ tuổi, nhưng đã bộc lộ sự am hiểu khá sâu sắc đời sống nhân dân và nền kính tế nước nhà. Tháng 5/1434, vua cho ban hành về nghạch thú bãi dâu, từ đó lấy làm lệ lâu dài. Tháng 5/1435 hạ lệnh cho các quan không được dùng sức một cách tuỳ tiện phục vụ mục đích riêng, nhằm ngăn chặn sự hoành hành của quan lại, cũng đồng thời bảo vệ nhận dân, giành sức chăm lo khôi phục kinh tế. Trong việc thực hiện chính sách thuế má, Lê Thái Tông tỏ rõ là người am hiểu dân tình và có lòng nhân ái bao dung. Ngày 18/9 năm Ất Mão (1435), triều đình bàn về ngạch thuế, định rằng: “ người có đất bãi trồng dâu và có ruộng cấy lúa, nếu là quân thì cấp thêm cho 5 sào đất bãi dâu, nếu là dân thì cấp cho 4 sào để làm sản nghiệp.Tất cả được miễn thuế, trừ những ngườiì không vợ hoặc goá chồng”. Lúc đó, Giám quan Phan Thiên Tước tâu: Người không vợ hoặc goá chồng phải là người được dân thương đến.Nay bệ hạ ban ân huệ cho khắp quân dân mà những hạng đó không được hưởng, thế ra họ không phải là dân của vua ư ?.Nghe thế, Vua bèn quyết cho 2 loại người này được miễn thuế 3 sào”.

Đối với đội quân thường trực, Lê Thái Tông luôn đòi hỏi tinh thần sẳn sàng chiến đấu cao. Một mặt, nhà vua tổ chức cho giảng tập võ nghệ ở sân rồng trong cung điện, đích thân đi duyệt các cuộc tập trận bộ binh và thuỷ, điểm duyệt quân đội; mặt khác, ban hàng lệ thi các võ tướng để từ đó thành lệ mãi.

Lên ngôi lúc 11 tuổi, lại vào thời điểm sau chiến tranh, hàng loạt các công thần Lam Sơn dần dần bị tha hoá sao nhãng việc nước, tranh giành tước vị, gièm pha lẩn nhau, chỉ cốt sao được vinh thân phì gia; Quả là một trọng trách nặng nề và quá sức đối với vị vua đang độ tuổi lấy ăn chi là chính. Thế nhưng, bằng những việc làm, chứng tỏ Lê Thái Tông là một người có thiên tư trị quốc, đã biết nghe và phân định những lời can gián của các bậc trung thần như Nguyễn Trãi, Phan Thiên Tước …, tuy không phải lúc nào những lời can ngăn cũng được vua chấp nhận.

Trong môi trường chính trị rối răm phúc tạp với những quan hệ thân tộc chằng chịt, đầy rẫy những trung thần tài đức vẹn toàn như Nguyễn Trãi trở thành cái gai trong mắt các vị đại thần. Biết thời biết thế, Nguyễn lui về ở ẩn, nhưng cũng không được yên. Cuối cùng hậu quả của những âm mưu chính trị, của việc tranh giành quyền lực giữa các đại thần, sự đàng hoàng vô độ đã dẫn đền cái chết đắc tử của Lê Thài Tông ngày 5/8/1442 tại Lệ Chi Viên xã Đại Lai, huyện Gia Định. Đây cũng là nguyên cớ trực tiếp để các thế lực chính trị đen tối thanh tán tận gốc những danh thần trung nghĩa.

Ngày 16/8/1442, Thừa chỉ nhập nội Đại hành khiển, trí sĩ Nguyễn Trãi bị giết và chu di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên đầy oan ức. Gần 600 năm sau, dù đã hao tốn không ít giấy mực và công sức của các nhà nghiên cứu, vụ án Lệ Chi Viên có một không hai trong lịch sử dân tộc vẫn còn nhiều điều bí ẩn.

Lê Thái Tông đặt 2 niên hiệu: Thiệu Bình (1434 – 1439 ) và Đại Bảo ( 1440 – 1442 ). Các sử gia đương thời đánh giá là vị vua “tư chất sáng suốt tinh khôn, khi cầm quyền binh, trong ngăn ngừa quyền thần, ngoài man động. Trọng đạo, chuộng nho, đặt khoa thi chọn kẽ sĩ, chế lễ nhạc, rõ chính hình, văn vận rực rỡ, đủ cả, đáng khen là vua hiền”.

Đọt Rau Má
04-25-2009, 01:52 PM
Tấm bia đá có kích thước khá lớn, khắc chữ hán ở hai mặt, còn bảo tồn tại xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá có lẽ là tài liệu văn tự cổ duy nhất ghi về thân thế, sự nghiệp bà Lê Thị Hoa.



http://www.thanhhoatoday.vn/ThumbJpeg.ashx?VFilePath=/ImgUpload/DN%20X%C6%AFA/bia%20%C4%91a.jpeg&Width=200&Bevel=false
Văn bia cho biết bà sinh vào ngày rằm tháng 11 năm Mậu Ngọ (? ) ở thôn Thượng Linh, xã Cao Linh,huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam ( Hà Nam ), Cha là Lê Thái, mẹ họ Dương. Bà Hoa là con duy nhất trong gia đình. Được cha yêu mẹ chiều, lại có nhan sắc nhưng Bà là người nết na thuần hậu, luôn chăm đạo đàn bà, hiếu kính với cha mẹ, hoà nhã với bà con hàng xóm. Năm bà Hoa lên 18 tuổi, có nhà Mai Thông, ở xã Phú Cốc cùng huyện, quên thân gia đình ông Lê Thái, đã hỏi bà cho con trai mình là Mai Tiến, lúc ấy 19 tuổi. Lấy chồng được 2 năm, cha me đều mất, bà Hoa đã hết lòng hiếu thuận thờ cha mẹ chồng. Bấy giờ nước ta đang chịu sự cai trị của nhà Đông Hán. Năm 34 ( Sau công nguyên ) nhà Hán cử Tô Định sang làm Thái thú Giao chỉ thay cho Tích Quang. Tô Định là kẻ thù hết sức gian tham “hễ thấy tiền là gương mắt lên”.

Thái thú Tô Định biết Mai Tiến là một người có tài, nên ép buộc ông phải ra làm quan huyện Gia Lâm. Mai Tiến làm quan được 3 năm, vốn là người nhân hậu, ông đã hêt lòng chăm lo đời sống cho dân.

Thái thú Tô Định thấy bà Hoa xinh đẹp, bèn giết Mai Tiến để bắt bà về làm tỳ thiếp. Sau khi chồng bị giết hại, bà cùng các con chạy về Phú Cốc, Thượng Linh, bán hết gia sản phân tán cho người nghèo khổ. Chiêu mộ được hơn hai ngàn người ra đánh nhau với Tô Định, nhưng bị thua. Bà đưa các con lánh nạn vào trang An Nội, (nay thuộc xã Thiên Nga, huyện Nga Sơn ). Thấy đầu trang có khoảng 100 mẫu đất màu mỡ, lại có khu đất cao rộng chừng một sào, cư dân thưa thớt, Bà dựng nhà tranh để ở, thuê người cày vỡ đât hoang, hơn một năm sau được mấy chục mẫu ruộng. Bà cử người về quê chiêu tập một số gia đình họ Mai vào định cư ở trang An Nội. Nhân dân quanh vùng cũng về An Nội ngày một đông.

Bà Hoa chung sống với chồng được 21 năm, sinh được 4 cậu con trai rất khôi ngô, tuấn tú thông minh hơn người: Mai Đạt 21 tuổi, Mai Thỏa 19 tuổi, Mai An 17 tuổi và Mai Trí 14 tuổi. Lúc vào trang An Nội con trai cả 21 tuổi, vào vùng đất mới được 3 năm cũng là lúc 4 người con trai bà đã khôn lớn. Tiếng vang của cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo ở quận Giao Chỉ dội tới Cửu Chân. Bà Hoa cùng các con trai của mình đã sẵn sàng lực lượng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Vừa lúc đó có tướng của Hai Bà vào trang An Nội dụ bảo. Vốn có lòng yêu nước, lại có sẵn mối thù nhà, nên Bà Hoa đã chiêu mộ quân lên đường đánh giặc. Bà Hoa là tướng cai quản đội nữ binh, bốn con trai cả bà làm tả hữu tiên phong cùng đánh Tô Định, Tô Định thua trận bỏ chạy về bắc. Bà Trưng Trắc lên ngôi Vua, đóng đô ở Mê Linh (Vĩnh Phúc), dựng lên triều đình Lĩnh Nam của người Việt. Không màng danh lợi, Bà Hoa xin về trang An Nội tiếp tục khẩn hoang cày cấy, được Trưng Vương Miễn thuế và phục dịch. An Nội trở thành thực ấp của mẹ con Bà.

Ngày 25 tháng 2 năm 41 bà Lê Thị Hoa ốm rồi mất. Trưng Vương nghe tin đã than rằng: Bà Lê Thị Hoa tính hiền lành lại hay làm việc thiện, giỏi dạy các con, nên ban hiệu là Từ Thiện phu nhân, sai sứ thần về chọn đất tốt làm lễ an táng ở bãi Sở,dựng miếu thờ trên nền nhà ở tang An Nội.

Cuộc đời của bà Lê Thị Hoa là những tháng năm hoạt động liên tục. Bà làm bổn phận một người con “ hiếu thuận thờ cha mẹ chồng”.Chồng bị giặc giết, một mình chăm sóc “giỏi dạy các con”, bốn người con trai của bà sau này trở thành những tướng chỉ huy duới ngọn cờ của Hai Bà Trưng. Bản thân bà Lê Thị Hoa là người có lòng yêu nước, thương dân “tính hiền từ lại hay làm việc thiện”, Bà từng là thủ lĩnh của một cuộc nổi dậy ngay trên quê Phú Cốc, Thượng Linh, Văn bia không ghi cụ thể về sự kiện bà Lê Thị Hoa đã được hưởng ứng phong trào do Hai Bà Trưng lãnh đạo ra sao?

Sách Hậu hán thư chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng: “Đến năm Kiến Vũ thứ 16, người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị làm phản, đánh phá quận. Trưng Trắc là con gái lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ Thi Sách, người Chu Diên rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, trưng trắc phẫn nộ vì thế mà làm phản. Do vậy “người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng”. Tô Định còn là kẻ vô cùng tham lam “giương mắt mà trông tiền”

Xã hội nước ta bị Bắc thuộc lần thứ nhất kéo dài 246 năm (207 trước CN – 39 sau CN) dưới sự cai trị của nhà Tây Hán rồi Đông Hán. Tô Định là viên Thái thú thứ ba sau Nhâm Diên và Tích Quang được nhà Hán cử sang cai trị nước ta. Nhà Hán sáp nhập nước ta thành một quận huyện của Trung Quốc. Chúng đẩy mạnh chính sách đồng hóa với những đợt di dân từ Trung Quốc sang, gồm Thương nhân, Quý tộc Hán à bọn quan lại Hán thất thế, cả dân thường phiêu bạt, khiến cho xã hội nước ta bị phân hóa sâu sắc, một bộ phận nhân dân bản xứ bị biến thành nô tỳ, nông nô làm viếc kiệt sức trong các điền trang lớn của bọn quan lại quý tộc Hán. Đại bộ phận nhân dân bị lầm than cơ cực. Trên đất Cửu Chân (Thanh Hóa) Nhâm Diên cho mở dạy học để truyền bá tư tưởng nho gia, đào tạo quan lại người Việt làm tay sai cho chúng. Mâu thuẫn giữa nhân dân Âu Lạc với chính quyến Hán đô hộ ngày càng sâu sắc.

Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo nổ ra trong hoàn cảnh xã hội như vậy, giống như châm một ngòi lửa cháy rộng ra cả nước.

Từ Mê Linh (Yên Lãng, Phúc Yên) là quê hương Hai Bà Trưng, cũng là nơi khởi xuất, trung tâm của cuộc khởi nghĩa. Tháng 3 năm 40 nghĩa quân đánh chiếm Mê Linh, rồi chiếm thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), vượt sông Hoàng sông Đuống đánh phá đô úy trị là trung tâm đầu não của chình quyền Hán ở Giao Chỉ là thành Liên Lâu (Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) khiến cho chính quyền thống trị của Châu Giao Chỉ tan rã.

Có thể quân chủ lực của Hai Bà Trưng chưa tiến vào quận Cửu Chân, vì chính quyền chính quyền cai trị ở đây bị phong trào địa phương chính quyền cai trị ở đây đã bị phong trào địa phương lật đổ. Hai bộ sử lớn của nước ta là Toàn thư và Cương mục chỉ ghi chép có hai vị tướng là Đô Dương và Chu Bá đã đưa quân từ Cửu Chân và Giao Chỉ hợp lực cùng Hai Bà Trưng đánh giặc. Sau khi Hai Bà bị thất thủ, hai viên tướng này rút lực lượng nghĩa quân vào Cửu Chân, kéo dài cuộc chiến đấu đến năm 44.

Trang An Nội quê hương bà Lê Thị Hoa có vị trí quân sự mang ý nghĩa chiến lược. Năm 43, Mã Viện đưa quân đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Cửu Chân. Cuộc hành quân của y đã đi bằng đường thuỷ từ Ninh Bình vào cửa biển Thuần Phù (Ngha Sơn), rồi đào sông nối với Sông Chính Đại – Hoàng Cương để vào sâu trong nội địa.

Lực lượng vũ trang do các con Bà Lê Thị Hoa tổ chức, tập hợp có lẽ đã từ trang An Nội tiến đánh lực lượng quân Hán ở trong quận Cửu Chân khoá chặt đầu mối giao thông đường thuỷ từ biển vào Trần Phù, chia cắt không cho quân Hán ởGiao Chỉ và Cửu Chân liên hệ tiếp ứng cho nhau.

Mã Viện tiếp quân vào Cửu Chân, đã bị nghĩa quân cầm chân hàng tháng trời ở cửa biển Trần Phù. Lúc này nữ tướng Lê Thị Hoa đã mất, nhưng trang An Nội do bà tốn bao công sức tạo dựng, có lẽ đã được người con trai của Bà những vị tướng trẻ đã tham gia chính quyền năm 40, tiếp tục chỉ huy. Những trận đánh tại đây diễn ra vào tháng 12 năm 43 khiến cho chúng bị thiệt hại nặng nề. Đội quân xân lược đàn áp do Mã Viện chỉ huy bị giam chân 6 tháng tại đất Cửu Chân. Mùa thu năm 44 phong trào đấu tranh của nhân dân Cửu Chân tạm thời bị dập tắt, Mã Viện rut quân về Trung Quốc.

Trong cuộc khởi nghĩa do hai Bà Trưng lãnh đạo giành chính quyền và giữ chính quyền, nhân dân cùng nhiều vị tướng trên đất Cửu Chân đã nêu tấm gương xả thân vì nước, mà nữ tướng Lê Thị Hoa là tấm gương sáng. Cuộc đời và sự nghiệp của Bà đã chứng tỏ Bà là người đi tiên phong để xây dựng nên truyền thông quý báu của người phụ nữ Việt Nam.

Đọt Rau Má
07-11-2009, 06:02 PM
Phạm Bành (1827-1887)lãnh tụ phong trào cần vương


Ông quê ở làng Tương Xá (nay thuộc xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá), đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864), làm quan đến chức án sát tỉnh Nghệ An, nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân. Năm 1885,hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông bỏ quan về quêcùng với Hoàng Bật Đạt mộ quan khởi nghĩa. Giữa năm 1886 ông được cử cùng với Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng và một số tướng lĩnh khác xây dựng căn cứ Ba Đình nhằm bảo vệ cửa ngõ miền Trung và làm bàn đạp toả đánh địch ở đồng bằng. Căn cứ Ba Đình thuộc địa phận huyện Nga Sơn (Thanh Hoá). Sở dĩ gọi là Ba Đình vì nơi đây gồm 3 làng: Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh ở liền nhau, mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở làng này sẽ nhìn thấy đình ở hai làng bên và có một ngôi nghè chung, Lập căn cứ Ba Đình nghĩa quân có thể kiểm soát và khống chế đường số 1(là con đường đi yết hầu của địch từ Bắc vào Nam), hơn thế nữa địa thế nơi đây rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ phòng ngự kiên cố và từ đó nghĩa quân có thể toả ra ngăn chặn những hoạt động của địch ở khu vực giữa Ninh Bình và Thanh Hoá.
Sau những thất bại nặng nề ở Ba Đình, thực dân Pháp chủ trương tẩp trung đủ mọi binh chủng, có pháo binh yểm trợ đã tiến hành bao vây và mở nhiều đợt tấn công mới hạ nổi được Ba Đình.
Mặc dù tuổi già sức yếu (lúc này ông đã 60 tuổi) nhưng Phạm Bành luôn có mặt ở trận địa, nơi nguy hiểm nhất để động vên và khích lệ các nghĩa binh chiến đấu.
Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở Mã Cao (Yên Định) ngay đêm 20-2-1887, rồi lánh về quê. Nhưng sau để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị giặc bắt làm con tin, ông đã ra đầu thú và uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả ngày 18 - 3 năm Đinh Hợi (tức ngày 11 - 4 - 1887) để tỏ rõ khí tiết của mình.

Sưu tầm.

Đọt Rau Má
07-11-2009, 06:04 PM
ĐỖ BÍ (Thế kỉ XV)- NHÂN VẬT THAM GIA NGÀY ĐẦU KHỞI NGHĨA LAM SƠN.


Ông quê ở thôn Cung Hoàng (nay thuộc huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những buỗi đầu.


Tháng 4 năm Mậu Tuất (1418), quân Minh vây đánh, bộ chỉ huy bị vây hãm ở núi Chí Linh hơn 3 tháng trời, ông luôn đi sát để bảo vệ Lê Lợi.
Ông là một vị tướng có tài. Năm 1424, ông được cử tham gia chỉ huy trận Khả Lưu, chặn đứng cuộc hành quân của giặc, không cho chúng đánh chiếm lại Trà Lân- một vị trí hết sức quan trọng án ngữ mạch giao thông phía tây Nghệ An. Trận này ta thắng lớn, làm thay đổi hẳn tình hình theo chiều hướng có lợi cho Lam Sơn.
Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn quyết định tiến quân ra Bắc,ông được cử cùng với các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Lý Triện chỉ huy đạo quân thứ nhất gồm 3000 quân và một thớt voi, có nhiệm vụ uy hiếp mặt Nam thành Đông Quan. Khi vừa tiến ra phía Nam thành Đông Quan, đạo quân này đã lập được ba chiến công vang dội: thắng trận Ninh Kiều (9-1426), trận Nhân Mục (9-1426), trận Xa Lộc (10-1426). Ông đã vinh dự được chỉ huy trực tiếphai trận Ninh Kiều và Nhân Mục.
Tháng 11 năm 1426, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang cứu nguy, đóng ở Đông Quan hòng làm thay đổi tương quan lực lượng. Mặc dù vậy, ông và các tướng chỉ huy cũng hạ quyết tâm chủ động đánh giặc, trận phục kích Tốt Động- Chúc Động thắng lợi đã thể hiện điều đó, buộc Vương Thông phải rút về cố thủ trong thành Đông Quan. Từ đây nghĩa quân vây chặt Đông Quan. Ngày 7 tháng 2 năm Đinh Mùi (tức ngày 4-3-1427), Vương Thông bất ngờ tấn công vào khu vực đóng quân của ông và Lý Triện ở Qủa Động. Trận này, Lý Triện đã anh dũng hy sinh, còn ông thì bị bắt, mãi đến khi Vương Thông đầu hàng mới được trao trả.
Năm 1428, sau thắng lợi hoàn toàn, lúc luận công ban thưởng, ông được ban quốc tính, tước Huyện hầu (là 1 trong số 14 người được ban tước này).
Trong suốt 20 năm làm quan trong triều, ông vẫn luôn liêm khiết và được tín nhiệm. Năm 1448, lúc vua Lê Nhân Tông cùng đông đả bá quan văn võ về bái yết Lam Kinh, ông và Nguyễn Thận vinh dự được ở lại coi giữ kinh thành Thăng Long.

Sưu tầm

Đọt Rau Má
07-11-2009, 06:05 PM
ĐINH BỒ (1370-1427)-Lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn.


Danh tướng cụôc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở Thuỷ Cối (nay thuộc xã Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá), là em Đinh Lễ, anh Đinh Liệt, là cháu bên ngoại của Lê Lợi.

Lúc đầu ông được phân công phụ trách việc quân lương. Sau đó, ông được cử chỉ huy đội quân Thiết Đột. Đội quân Thiết Đột do ông chỉ huy rất giỏi phục kích nên đã từng thắng nhiều trận như: trận Lạc Thuỷ (1418); trận Nga Lạc (1419); trận Thi Lang (1420), trận này đội quân của ông đã tiêu diệt được hơn một ngàn tên địch, Lý Bân và Phương Chính đã thoát chêt trong trận này.
Khi tiến quân vào Nghệ An,ông đã lập nhiều công trong trận hạ đồn Đa Căng, trận Trà Lân, trận Khả Lưu. Vì vậy ông được phong chức Thượng tướng, hàm Thiếu bảo. Tháng 7 năm ất tỵ (1425), ông được cử chỉ huy một ngàn quân cùng với tướng Doãn Nỗ, Lê Định tiến vào giải phóng Tân Bình-Thuận Hoá để mở rộng địa bàn về phía Nam. Cùng với sự phối hợp của thuỷ quân, vùng Tân Bình-Thuận Hoá được giải phóng. Ông được cử ở lại làm trấn thủ nơi này.
Cuộc kháng chiến đang chuẩn bị bước vào giai đoạn quyết liệt nhất thì vết thương của ông trong trận Hồ Xá lại tái phát, rất nhiều lương y đã cố giắng chạy chữa nhưng không được. Ông mất vào ngày 15 thàng 7 năm Đinh Mùi (1427). Nghe tin dữ, Lê Lợi đã sai người mang sắc phong quốc tính, tước Thái bảo và áo gấm đỏ vào khâm liệng.
Năm 1428, khi Lê Lơị lên ngôi đã gia phong cho ông tước Uy dũng Đại vương, Trung đẳng Phúc thần và sai lập đền thờ ở Thuận Hoá.

Sưu tầm..

raumaquetoi
04-09-2010, 09:19 AM
Lê Thái Tổ - người Anh hùng giải phóng dân tộc



Lê Lợi (1385-1433) sinh tại Lam Sơn (nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Đất nước bị giặc Minh xâm lược, Lê Lợi với tài năng và uy tín lớn đã dựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ hiền tài, kêu gọi nhân dân cả nước cùng đứng lên đánh giặc.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Cùng với tư tưởng chiến lược quân sự đúng đắn, tài lãnh đạo kiệt xuất của Lê Lợi, tới năm 1428 cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lo chấn chỉnh nội trị, mở nhiều khoa thi... đặt nền móng cho nền thịnh trị lâu dài của đất nước.





http://svthanhhoa.info/forum/attachment.php?attachmentid=2666&d=1270779464&thumb=1 (http://svthanhhoa.info/forum/attachment.php?attachmentid=2666&d=1270779464)Đền Lê Thái Tổ, phố Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội


Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm Ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách.
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về. Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa.Ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham... Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng. Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới. Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn mà ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược kiệt xuất. Một nét đặc sắc, mới mẻ trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê Lợi thực hiện là dựa vào nhân dân để tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất nhân dân rộng rãi của nó, một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi nghĩa khác chống Minh trước đó. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở một địa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc. Đây là một cống hiến sáng tạo to lớn về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại một kinh nghiệm lịch sử quý giá.
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, vừa là vị tướng cầm quân mưu trí, quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng lối đánh "vây thành diệt viện" theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm: "Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành kiên cố hàng năm, hàng tháng không lấy được, quân ta sức mỏi, khí nhụt, nếu viện binh giặc lại đến thì ta đằng trước, đằng sau đều bị giặc đánh, đó là đường nguy. Chi bằng nuôi sức khỏe, chứa khí hăng để đợi quân cứu viện tới. Khi viện binh bị phá thì thành tất phải hàng". Chiến thuật "Vây thành diệt viện" của Lê Lợi kết hợp với chủ trương "mưu phạt nhị tâm công", uy hiếp, phân hóa, chiêu dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên một phương thức độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng, Xương Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng lợi của tư tưởng quân sự của Lê Lợi - Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi hết giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, sáng lập ra vương triều Lê. Lê Lợi làm vua được 5 năm thì mất (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có những cố gắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát triển đất nước trên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương; ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu quả để khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội. Lê Lợi cũng chú ý tới việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm 1428, lên ngôi vua, năm sau (niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh. Năm 1431, thi khoa Hoành từ. Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn sách. Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã mở một khoa thi đặc cách lấy đỗ 32 người, trong đó có Đào Công Soạn, một nhà ngoại giao xuất sắc thời Lê Lợi. Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu sau khi đất nước được giải phóng là việc tăng cường củng cố, giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Về phương diện này, Lê Lợi đã làm được hai việc có ý nghĩa lịch sử. Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường giữa triều Lê và triều Minh. Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tan những âm mưu và hành động bạo loạn muốn cát cứ của một số ngụy quân trước, điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Lai Châu. Trong bài thơ làm khắc vào vách đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà, thuộc Lai Châu) năm 1431 khi đánh Đèo Cát Hãn, Lê Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự thống nhất giang sơn:
Đất hiểm trở từ nay không còn,
Núi sông đã vào chung một bản đồ.
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta.
Sau bài thơ trên, Lê Lợi còn viết bài thơ thứ hai khắc vào vách núi Hào Tráng bên Chợ Bờ, Hòa Bình.
Lê Lợi trong 5 năm làm vua, bên cạnh những công lao to lớn, có phạm một số sai lầm mà sử sách đương thời cũng thẳng thắn phê phán. Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, lập quan chức, lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường học, có thể gọi là có mưu lớn, sáng nghiệp. Song, đa nghi, hay giết, đó là chỗ kém".

Giáo sư sử học Văn Tạo

XaMe_VT
04-11-2010, 08:29 PM
Còn rất nhiều danh nhân xứ Thanh nữa, anh em nào có tài liệu post lên cho mọi người tham khảo đi...